null Đề cương giới thiệu luật hoạt động giám sát của quốc hội và hội đồng nhân dân

Đề cương phổ biến, giáo dục pháp luật
Th 5, 29/07/2021, 14:35
Màu chữ Cỡ chữ
Đề cương giới thiệu luật hoạt động giám sát của quốc hội và hội đồng nhân dân

Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 20/11/2015; được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 04/12/2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016. 

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

Thời gian qua, hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân được thực hiện theo Luật tổ chức Quốc hội (năm 2001), Luật hoạt động giám sát của Quốc hội (năm 2003), Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (năm 2003), Nội quy kỳ họp Quốc hội, Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân.

Qua quá trình thực hiện, hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nội dung giám sát khá toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm trong từng thời gian, trong đó tập trung vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước, việc thi hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh và những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đòi hỏi. Hình thức giám sát, phương thức tổ chức hoạt động giám sát được đổi mới theo hướng phát huy dân chủ, nâng cao tính công khai, minh bạch, có sự tham gia ý kiến của nhân dân, sự tham gia, phối hợp giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Hoạt động giám sát đã phát huy tính chủ động, tích cực của các cơ quan thực hiện giám sát, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng chịu sự giám sát. Qua giám sát đã đưa ra nhiều kiến nghị đóng góp vào hoạt động lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và của địa phương, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế, chính sách và quản lý điều hành kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, được dư luận và nhân dân đồng tình, ủng hộ, quan tâm, đánh giá cao, góp phần nâng cao vai trò, uy tín, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan dân cử.

Bên cạnh đó, thực tiễn thi hành quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cũng bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập sau đây:

Một là, một số quy định về nội dung, đối tượng, hình thức giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân còn trùng lặp, chưa rõ ràng, cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện; phạm vi giám sát quá rộng với nhiều chủ thể, nhiều hình thức giám sát, nhưng lại chưa phân định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi chủ thể với từng đối tượng chịu sự giám sát cũng như sự phối hợp giữa các chủ thể giám sát dẫn tới sự chồng chéo trong thực hiện; các quy định về giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân hiện đang nằm tản mạn trong nhiều văn bản khác nhau nên khó tiếp cận;

Hai là, một số quy định về hình thức giám sát chưa được thực thi hoặc tính khả thi còn thấp, như quy định Quốc hội, Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; Quốc hội thành lập Uỷ ban lâm thời để điều tra về một vấn đề nhất định; Quốc hội xem xét báo cáo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tình hình thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Hoạt động giám sát văn bản pháp luật chưa được thực hiện thường xuyên; chưa có biện pháp hữu hiệu để theo dõi, kiểm tra việc tiếp thu, giải quyết các kiến nghị sau giám sát. Quy định về các điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát như cơ sở vật chất, trang thiết bị, bộ máy giúp việc… chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát.

Ba là, một số hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân mới được thực hiện đã phát huy hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cuộc sống như giám sát theo chuyên đề, giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri, tổ chức phiên giải trình, chất vấn giữa hai kỳ họp… nhưng lại chưa được ghi nhận trong các quy định của luật; một số thẩm quyền giám sát được quy định trong các đạo luật về tổ chức nhưng chưa có trình tự, thủ tục thực hiện trong luật hoạt động giám sát.

Những bất cập nêu trên dẫn đến hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân vẫn còn hạn chế. Vì vậy, để kịp thời thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, thể chế hoá các quy định liên quan đến hoạt động giám sát trong Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử thì việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định về giám sát trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hiện hành để ban hành một đạo luật chung về hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là thực sự cần thiết. 

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, MỤC TIÊU XÂY DỰNG LUẬT

1. Quan điểm chỉ đạo

- Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; cụ thể hóa các quy định mới của Hiến pháp liên quan đến hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

- Kế thừa và phát triển những quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm là hợp lý, đúng đắn và hiệu quả của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và các văn bản pháp luật có liên quan; khắc phục hạn chế, bất cập; hệ thống hóa, pháp điển các quy định về hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử từ các văn bản pháp luật có liên quan.

- Tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; bảo đảm sự thống nhất, khoa học trong việc xác định đối tượng, phạm vi, hình thức, thẩm quyền, trình tự giám sát của từng chủ thể giám sát; bảo đảm quyền, trách nhiệm của chủ thể giám sát, của đối tượng chịu sự giám sát; phát huy vai trò của giám sát trong việc góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước.

- Bảo đảm sự đồng bộ, phù hợp giữa những đổi mới về hoạt động giám sát với những đổi mới về tổ chức của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan, tổ chức khác của hệ thống chính trị. 

- Tham khảo tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm về hoạt động giám sát của cơ quan dân cử một số nước trên thế giới.

2. Mục tiêu xây dựng luật

- Sửa đổi những quy định trong pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cho phù hợp với quan điểm của Đảng; quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 và tình hình thực tiễn đổi mới. Bảo đảm sự đồng bộ, phù hợp giữa đổi mới về hoạt động giám sát với những đổi mới về tổ chức của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan, tổ chức khác của hệ thống chính trị. 

- Tăng cường chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; bảo đảm sự thống nhất, khoa học trong việc xác định đối tượng, phạm vi, thẩm quyền, trình tự giám sát của từng chủ thể giám sát; bảo đảm quyền, trách nhiệm của chủ thể giám sát và đối tượng chịu sự giám sát; phát huy vai trò của giám sát trong việc góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước.

- Bảo đảm sự thống nhất trong việc quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, đảm bảo yêu cầu về mặt kỹ thuật lập pháp và nội dung để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tổ chức hoạt động giám sát.

III. BỐ CỤC CỦA LUẬT

Luật gồm 5 chương, 94 điều, cụ thể như sau: 

Chương I: Những quy định chung (Điều 1-Điều 10) quy định về phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc hoạt động giám sát, thẩm quyền giám sát, trách nhiệm của chủ thể giám sát, quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát, việc tham gia giám sát của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và hiệu quả của giám sát.

Chương II: Giám sát của Quốc hội (Điều 11-Điều 56) gồm 4 mục quy định về các hoạt động giám sát, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

Chương III: Giám sát của Hội đồng nhân dân (Điều 57-Điều 87) gồm 4 mục quy định về các hoạt động giám sát, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân.

Chương IV: Bảo đảm hoạt động giám sát (Điều 88-Điều 90), quy định về bảo đảm thực hiện hoạt động giám sát, bảo đảm việc thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát, bảo đảm kinh phí và tổ chức phục vụ hoạt động giám sát.

Chương V: Điều khoản thi hành, gồm 1 điều quy định về hiệu lực thi hành và văn bản bị bãi bỏ.

IV. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

Luật quy định chung cả giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong một văn bản luật, vì thế cơ cấu, bố cục của luật cũng thể hiện theo hướng những vấn đề nào chung cho giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân thì quy định chung trong một chương, còn những vấn đề nào mang tính đặc thù giám sát riêng cho từng nhóm chủ thể giám sát là Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân thì quy định riêng trong một chương.    

1. Những quy định chung

Chương này được xây dựng trên cơ sở các quy định chung về hoạt động giám sát của Quốc hội trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và các quy định chung về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân trong Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Trong đó, Luật tiếp tục làm rõ một số vấn đề cơ bản, mang tính xuyên suốt như về giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Hội đồng nhân dân, bổ sung quy định về nguyên tắc của hoạt động giám sát, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát.     

1.1.Về phạm vi điều chỉnh: Luật quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát, cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến hoạt động giám sát (Điều 1).

1.2. Về nguyên tắc hoạt động giám sát: Luật quy định các nguyên tắc hoạt động giám sát bao gồm i) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; ii) Bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả; iii) Không làm cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát (Điều 3).

1.3. Về thẩm quyền giám sát: Luật quy định cụ thể thẩm quyền giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội (Điều 4) và thẩm quyền giám sát của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 5). Luật cũng quy định: Khi xét thấy cần thiết, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tiến hành giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân tiến hành giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương.

1.4. Về trách nhiệm của các chủ thể giám sát: Luật quy định cụ thể trách nhiệm của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội; Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, Đại biểu Hội đồng nhân dân trong hoạt động giám sát và khẳng định các chủ thể giám sát chịu trách nhiệm về báo cáo, nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị giám sát của mình (Điều 6).

1.5. Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát: Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát phải thực hiện đầy đủ kế hoạch, nội dung, yêu cầu giám sát của chủ thể giám sát; cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ của mình, trừ thông tin thuộc bí mật nhà nước mà theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước chủ thể giám sát đó không thuộc diện được tiếp cận; báo cáo trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giám sát; nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân; thực hiện kết luận, kiến nghị của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có hành vi cản trở hoặc không thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị, yêu cầu của chủ thể giám sát thì chủ thể giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát xem xét xử lý trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, chủ thể giám sát còn có quyền kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát (Điều 7).

2. Về giám sát của Quốc hội

2.1. Trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động giám sát của Quốc hội tại kỳ họp, bao gồm:

- Xem xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và các báo cáo khác quy định tại Điều 13 của Luật.

- Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

- Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước.

- Xem xét báo cáo giám sát chuyên đề.

- Xem xét báo cáo của Uỷ ban lâm thời do Quốc hội thành lập để điều tra về một vấn đề nhất định.

- Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

- Xem xét báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội về kiến nghị giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

2.2. Trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, bao gồm:

- Xem xét báo cáo công tác của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, cơ quan khác do Quốc hội thành lập và các báo cáo khác quy định tại khoản 1 Điều 13 trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội do Quốc hội giao hoặc theo yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

- Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội.

- Giám sát chuyên đề.

- Xem xét báo cáo hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; xem xét nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.

- Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

- Giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri.

- Giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Xem xét kiến nghị giám sát của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

- Kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

2.3. Trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, bao gồm:

- Thẩm tra báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước quy định tại Điều 13 thuộc lĩnh vực Hội đồng, Uỷ ban phụ trách hoặc theo sự phân công của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

- Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước thuộc lĩnh vực Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách.

- Giám sát chuyên đề.

- Tổ chức hoạt động giải trình về những vấn đề thuộc lĩnh vực Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách.

- Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.

- Kiến nghị về việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

2.4. Trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hội, bao gồm:

- Đại biểu Quốc hội giám sát thông qua các hoạt động sau đây:

+ Chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước;

+ Giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành pháp luật;

+ Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.

- Đại biểu Quốc hội tự mình tiến hành hoạt động giám sát hoặc tham gia hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội; tham gia Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu.

3. Về giám sát của Hội đồng nhân dân

3.1. Trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp, bao gồm:

- Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các báo cáo khác theo quy định tại Điều 59 của Luật.

- Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp.

- Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.

- Giám sát chuyên đề.

- Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu.

3.2. Trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, bao gồm:

- Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.

- Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân.

- Giám sát chuyên đề.

- Tổ chức hoạt động giải trình tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân.

- Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

- Giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri.

3.3. Trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động giám sát của Ban của Hội đồng nhân dân, bao gồm:

- Thẩm tra các báo cáo do Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân phân công.

- Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp.

- Giám sát chuyên đề.

- Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.

3.4. Trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, bao gồm:

- Đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát thông qua các hoạt động sau đây:

+ Chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, và Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân;

+ Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp;

+ Giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương;

+ Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.

- Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; tổ chức để Đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện hoạt động giám sát.

4. Về bảo đảm hoạt động giám sát

Bảo đảm hoạt động giám sát bao gồm các quy định về trách nhiệm của cơ quan tham mưu, phục vụ, bảo đảm điều kiện vật chất cần thiết khác cho hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các cơ quan của Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

4.1. Về bảo đảm thực hiện hoạt động giám sát (Điều 88): Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm thực hiện chương trình, kế hoạch giám sát. Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm tham gia đầy đủ Đoàn giám sát mà mình là thành viên; các chủ thể giám sát có quyền tổ chức lấy ý kiến, trưng cầu giám định khi cần thiết theo quy định của pháp luật. Tổ chức, cá nhân có liên quan, chuyên gia có trách nhiệm tham gia hoạt động giám sát theo yêu cầu, kế hoạch giám sát. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu cho các chủ thể giám sát và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu cung cấp. Cơ quan thông tin đại chúng có quyền tiếp cận, đưa tin về hoạt động giám sát theo quy định của pháp luật.

4.2. Bảo đảm việc thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát (Điều 89): Chương trình, kế hoạch giám sát, báo cáo kết quả giám sát, nghị quyết về giám sát, kết luận, kiến nghị giám sát và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát phải được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan tiến hành giám sát hoặc đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng, trừ trường hợp phải bảo đảm bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật. Nghị quyết về giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân có giá trị pháp lý bắt buộc thực hiện. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, đôn đốc việc thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát; trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát không thực hiện hoặc thực hiện không đúng yêu cầu trong nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát thì xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.

4.3. Bảo đảm kinh phí và tổ chức phục vụ hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân (Điều 90): Kinh phí phục vụ hoạt động giám sát của do ngân sách nhà nước bảo đảm. Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện và bộ phận phục vụ Hội đồng nhân dân cấp xã có trách nhiệm bảo đảm điều kiện vật chất, tổ chức phục vụ hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu phục vụ hoạt động giám sát và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân.

V. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT

1. Luật hoạt động giám sát đã bổ sung các quy định nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động giám sát của Quốc hội

Một là, so với Luật hoạt động giám sát Quốc hội năm 2003, Luật hiện hành đã bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về hiệu quả hoạt động giám sát, đó là “giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước”. Đây là điều mới được bổ sung nhằm làm rõ tính chất giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Qua đó nhằm làm rõ mối liên hệ giữa hoạt động giám sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; giữa Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân trong việc bảo đảm hiệu quả của hoạt động giám sát.

Hai là, bổ sung quy định về chủ thể chịu sự giám sát của Quốc hội không chỉ bao gồm: Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (như quy định về thẩm quyền giám sát của Quốc hội trong Luật hoạt động giám sát Quốc hội 2003) mà bổ sung thêm thẩm quyền giám sát của Quốc hội đối với các hoạt động của Tổng kiểm toán Nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia.

Ba là, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục Quốc hội xem xét đối với kiến nghị giám sát của cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét đối với kiến nghị giám sát của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát không thực hiện kiến nghị giám sát của các chủ thể này (Điều 20 và Điều 33). Đây là các quy định mới, tạo cơ chế để các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội được quyền đưa ra trình Quốc hội xem xét, quyết định đối với các vấn đề đã được các chủ thể này giám sát nhằm bảo đảm cho kiến nghị giám sát có tính hiệu quả và khả thi cao hơn trên thực tiễn.

Bốn là, Luật hoạt động giám sát đã quy định rõ thời hạn các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát phải thực hiện các yêu cầu, kiến nghị giám sát đối với từng hoạt động giám sát. Cụ thể là: thời hạn gửi và đăng tải văn bản trả lời chất vấn, gửi báo cáo về việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn (Điều 15); thời hạn xem xét, thực hiện kiến nghị của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội (Điều 40).

Năm là, trên cơ sở kế thừa khái niệm giám sát trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, khái niệm “giám sát” trong Luật hoạt động giám sát hiện hành đã được bổ sung theo hướng quy định không chỉ là hoạt động “theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát” mà còn bao gồm cả việc “xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý” (Điều 2).

Bổ sung khái niệm về “hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội”, trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật hiện hành đã cụ thể hóa về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội như sau:

- Chỉ Quốc hội mới có quyền giám sát tối cao và hoạt động giám sát tối cao được tiến hành tại kỳ họp Quốc hội (Điều 2). Quy định này nhằm tạo cơ sở cho việc phân biệt hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội với hoạt động giám sát do Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và đại biểu Quốc hội tiến hành.

- Bổ sung một số hoạt động giám sát chưa được quy định tại Luật hoạt động giám sát của Quốc hội 2003. Đó là: xem xét báo cáo giám sát chuyên đề, xem xét báo cáo của Ủy ban lâm thời, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; xem xét báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội về kiến nghị giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội (các Điều 16, 17, 18, 19, 20);

- Quy định rõ chủ thể có thẩm quyền trình Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; chủ thể có quyền kiến nghị, đề nghị về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội bao gồm: Chủ tịch nước, Chính phủ, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận hoặc đại biểu Quốc hội có quyền gửi đề nghị; Ủy ban pháp luật có trách nhiệm thẩm tra đề nghị; Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm chủ trì, phối hợp thẩm tra đề nghị (Điều 14).

2. Hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Luật hoạt động giám sát đã kế thừa các quy định còn hợp lý về giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội từ Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, đồng thời bổ sung một số nội dung mới như sau:

Về chương trình giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bỏ quy định về chương trình giám sát hàng quý, chỉ quy định chương trình giám sát hằng năm;

Bổ sung một số loại hoạt động giám sát như: xem xét báo cáo và giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri; giám sát việc bầu cử Ủy ban thường vụ Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; xem xét kiến nghị giám sát của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn Ủy ban thường vụ Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội; quy định trình tự Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của các chủ thể có thẩm quyền xem xét việc trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (Điều 31, 33, 34).

Bổ sung quy định về hoạt động giám sát chuyên đề của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về việc thành lập Đoàn giám sát để giám sát chuyên đề, xác định rõ thành phần của Đoàn giám sát khi thực hiện giám sát chuyên đề, bổ sung quyền trưng cầu giám định về những vấn đề Đoàn giám sát thấy cần thiết.

3. Hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội

Kế thừa các quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, Luật đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung sau đây: Bỏ quy định liên quan đến văn bản liên tịch vì Luật tổ chức Quốc hội mới không quy định về vấn đề này; thay hoạt động tổ chức đoàn giám sát bằng hoạt động giám sát chuyên đề cho thống nhất với các hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bổ sung hình thức giám sát “kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm”, “tổ chức hoạt động giải trình”; Bổ sung thẩm quyền của Hội đồng dân tộc và Ủy ban của Quốc hội trong việc đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết về giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán Nhà nước (Điều 40).

4. Hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội,  Đoàn đại biểu Quốc hội

- Luật bổ sung chủ thể chịu sự giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội là Tổng kiểm toán nhà nước cho phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Quốc hội năm 2014.

- Bổ sung quy định về việc giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội và của đại biểu Quốc hội trong việc thi hành pháp luật ở địa phương để phù hợp với vị trí, tính chất giám sát của từng chủ thể. Cụ thể là:

+ Đối với Đoàn đại biểu Quốc hội: Căn cứ vào chương trình giám sát, Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương.

+ Đối với đại biểu Quốc hội: Căn cứ vào chương trình giám sát của mình, đại biểu Quốc hội tiến hành giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương. Đại biểu Quốc hội quyết định nội dung, kế hoạch giám sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và báo cáo Đoàn đại biểu Quốc hội.

5. Luật quy định chi tiết hơn và bổ sung một số quy định về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân

Luật cơ bản giữ các quy định về chủ thể, phạm vi giám sát của Hội đồng nhân dân như quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003; sửa đổi, bổ sung về hình thức giám sát, cụ thể hóa trình tự, thủ tục tiến hành giám sát. Cụ thể như sau:

- Đối với hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân: Quy định về hoạt động giám sát chuyên đề của Hội đồng nhân dân, việc tổ chức Đoàn giám sát để thực hiện giám sát chuyên đề (Điều 62). Ngoài ra quy định cụ thể và chi tiết hơn về các loại hình giám sát của Hội đồng nhân dân (báo cáo, chất vấn, lấy phiếu tín nhiệm) cũng như quy định rõ hơn về trình tự, thủ tục giám sát.

- Đối với hoạt động giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân và các Ban của Hội đồng nhân dân:

Quy định rõ về các hoạt động giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, trong đó có các hoạt động chưa được ghi nhận trong Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (năm 2003) như: xem xét việc trả lời chất vấn của người bị chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân; giải trình tại phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân; giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri (các điều 60, 69 và 74);

Quy định việc thành lập Đoàn giám sát để thực hiện giám sát chuyên đề của Thường trực Hội đồng nhân dân, việc Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét báo cáo giám sát chuyên đề của Đoàn giám sát (Điều 70-Điều 71); bổ sung quy định về trình tự Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét quyết định Uỷ ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp (Điều 68).

6. Lần đầu tiên Luật có các quy định về hoạt động giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân

Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 không có mục riêng quy định về hoạt động giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân mà lồng ghép nội dung này trong các quy định về quyền và trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân. Luật hoạt động giám sát đã bổ sung một mục quy định các hoạt động giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân, trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động giám sát cụ thể như chất vấn, giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; đồng thời, quy định về việc Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát việc thi hành pháp luật trên địa bàn đại biểu ứng cử (các điều từ Điều 83 đến Điều 87).

7. Bổ sung quy định về trách nhiệm điều hòa, phối hợp hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân

Luật bổ sung, quy định về trách nhiệm chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội như yêu cầu Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội hằng năm báo cáo về dự kiến chương trình, nội dung, kế hoạch giám sát của Hội đồng, Uỷ ban và điều chỉnh chương trình, kế hoạch, thời gian, địa điểm thực hiện giám sát của mình để tránh trùng lặp, chồng chéo về nội dung, địa điểm giám sát; yêu cầu Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội phối hợp thực hiện hoạt động giám sát ở cùng một địa phương, cơ quan, đơn vị để bảo đảm chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát (Điều 36). Luật còn quy định Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm điều hòa, phối hợp hoạt động giám sát (Điều 75).

VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Các cơ quan chức năng của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội đã và đang triển khai việc tuyên truyền, phổ biến Luật, coi đây là công tác trọng tâm trong năm 2016 với mục tiêu tuyên truyền kịp thời, thường xuyên với nhiều hình thức các quy định của Luật đến từng đối tượng có liên quan, đặc biệt là các quy định mới, bảo đảm về cơ bản, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể cũng như người dân được tiếp cận để có cách hiểu đúng và thống nhất các quy định trước khi Luật có hiệu lực thi hành, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện Luật./.

Số lượt xem: 10

Liên kết website
Thống kê truy cập
TRANG THÔNG TIN PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TỈNH BẠC LIÊU
CƠ QUAN CHỦ QUẢN: SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẠC LIÊU
Chịu trách nhiệm chính: Trưởng ban biên tập Vưu Nghị Bình, Giám đốc Sở Tư Pháp Tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: 0291.3820.253 - Email: Trangttpbgdplbaclieu@gmail.com.
Ghi rõ nguồn “TRANG THÔNG TIN PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TỈNH BẠC LIÊU” khi phát lại thông tin từ website này