null Đề cương giới thiệu luật trợ giúp pháp lý năm 2017

Đề cương phổ biến, giáo dục pháp luật
Th 5, 29/07/2021, 14:35
Màu chữ Cỡ chữ
Đề cương giới thiệu luật trợ giúp pháp lý năm 2017

Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 (thay thế cho Luật TGPL năm 2006); Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 12/7/2017 (Lệnh số 11/2017/L-CTN) Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

Ngày 29/6/2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL), tạo cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy công tác TGPL phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu TGPL, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn nói riêng.

Trước yêu cầu phát triển của đất nước, triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, nhiều đạo luật quan trọng mới được Quốc hội ban hành, nhiều chính sách cải cách được thông qua nhằm tăng cường cải cách pháp luật, cải cách tư pháp theo định hướng của Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, hoạt động TGPL đã bộc lộ hạn chế, bất cập sau:

Thứ nhất, diện người được TGPL còn chưa đầy đủ; quy định về người được TGPL chưa hợp lý, tản mạn ở nhiều văn bản do có sự thay đổi, bổ sung chính sách an sinh xã hội (Nghị định hướng dẫn Luật TGPL, các Luật có liên quan ban hành sau Luật TGPL quy định về người được TGPL gồm nạn nhân bị mua bán theo Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011, người khuyết tật theo Luật Người khuyết tật năm 2010, trẻ em theo Luật Trẻ em năm 2016). Hơn nữa, quy định người được TGPL cũng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tiễn và tinh thần Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 và các điều ước quốc tế liên quan khác mà Việt Nam là thành viên. Mặt khác, khoảng cách trong việc tiếp cận pháp luật có sự chênh lệch, một số đối tượng khó khăn về tài chính không có điều kiện chi trả cho các dịch vụ pháp lý nhưng chưa được tiếp cận dịch vụ TGPL để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ hai, hoạt động TGPL có bản chất là giúp đỡ các đối tượng yếu thế giải quyết các vụ việc cụ thể khi họ phải đối mặt với pháp luật chưa được quan tâm đúng mức; còn lẫn lộn với các hoạt động khác, nhiều lúc TGPL được thực hiện một cách dàn trải, thậm chí mang tính chất phong trào. Một nguồn lực lớn của Nhà nước (nguồn lực con người và tài chính) dành cho các hoạt động như tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL, TGPL lưu động. Trong khi đó, số lượng vụ việc TGPL được thực hiện bằng các hình thức như tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật tại trụ sở và tư vấn tiền tố tụng là những yêu cầu thiết thực và đúng bản chất của TGPL thì còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn.

Thứ ba, chất lượng vụ việc TGPL nhiều lúc còn chưa được bảo đảm; chất lượng dịch vụ TGPL chưa được xã hội đánh giá cao, chưa ngang bằng với dịch vụ pháp lý có thu phí do luật sư cung cấp. Chất lượng một số vụ việc tham gia tố tụng còn yếu, chưa có nhiều vụ việc TGPL được thực hiện từ giai đoạn điều tra hình sự, vụ việc TGPL tố tụng dân sự, tố tụng hành chính còn khá hạn chế; cơ chế quản lý chất lượng, việc kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL chưa được chú trọng, còn hình thức, hiệu quả chưa cao.

Hoạt động TGPL chưa chuyên nghiệp; quy định về điều kiện, tiêu chuẩn của Trợ giúp viên pháp lý chưa tương đương với luật sư trong khi dịch vụ mà họ cung cấp không khác so với luật sư là chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn và thông lệ quốc tế (chưa có quy định phải trải qua thời gian tập sự TGPL và kiểm tra kết quả tập sự TGPL); tiêu chuẩn, điều kiện của cộng tác viên TGPL khác (ngoài luật sư) còn thấp, chưa đồng đều. Số lượng vụ việc tham gia tố tụng do Trợ giúp viên pháp lý thực hiện với tư cách là lực lượng chuyên trách còn thấp (chiếm khoảng 30% tổng số vụ việc tham gia tố tụng), vẫn còn Trợ giúp viên pháp lý thiếu kỹ năng, kinh nghiệm hành nghề, lúng túng khi tham gia tố tụng.

Thứ tư, thực tế vẫn còn hiện tượng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu TGPL do thiếu nguồn lực thực hiện (thiếu luật sư hoặc Trợ giúp viên pháp lý có kinh nghiệm để giải quyết vụ việc hoặc thiếu kinh phí chi trả cho vụ việc), nhất là ở vùng sâu, vùng xa, các tỉnh chưa tự cân đối ngân sách nên vẫn bỏ sót người được TGPL có nhu cầu. Trong khi đó, quy định của pháp luật hiện hành chưa có cơ chế điều phối nguồn lực giữa các địa phương, do vậy quyền được TGPL của một bộ phận người dân chưa được bảo đảm trên thực tế.

Thứ năm, tổ chức bộ máy TGPL còn cồng kềnh, hiệu quả huy động sự tham gia của xã hội còn hạn chế: Bộ máy, tổ chức của một số Trung tâm còn cồng kềnh, nhiều Chi nhánh được thành lập nhưng thiếu nguồn lực bảo đảm hoặc kết quả hoạt động không cao; việc đầu tư kinh phí bảo đảm cho công tác TGPL chưa tương xứng với nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra, hiệu quả sử dụng kinh phí của các tổ chức TGPL nhà nước trong thời gian qua chưa hợp lý. Còn thiếu các chính sách ưu đãi, hỗ trợ nên chưa tạo được động lực cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội thực hiện dịch vụ TGPL (như chưa có cơ chế hỗ trợ kinh phí cho các tổ chức tham gia TGPL…), do đó việc huy động các nguồn lực xã hội tham gia TGPL còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.

Thứ sáu, quy trình, thủ tục tiếp nhận và thực hiện TGPL chưa tạo thuận lợi cho người được TGPL; chưa ứng dụng công nghệ thông tin; chưa quy định thời hạn trả lời yêu cầu TGPL; việc tiếp nhận yêu cầu TGPL của người được TGPL từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác chưa được điều chỉnh ở văn bản luật. Mặt khác, quy định thời hạn cử người thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng chưa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL; chưa có quy định giảm bớt các thủ tục hành chính đối với những trường hợp khẩn cấp phải được TGPL ngay (như người bị bắt theo Bộ luật Tố tụng hình sự).

II. MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT

1. Mục tiêu chính sách

Khắc phục hạn chế, bất cập trong hoạt động TGPL; đồng bộ, thống nhất với Hiến pháp năm 2013 và các Luật được Quốc hội ban hành gần đây để phát triển bền vững công tác TGPL; sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước; nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL; bảo đảm sự hội nhập quốc tế, nội luật hóa các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

2. Các quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý

Luật TGPL được xây dựng dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau:

Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, dân tộc và quan điểm về quyền con người, quyền công dân trong giai đoạn phát triển mới;

Thứ hai, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, đặc biệt là bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội; nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan, nhất là các bộ luật, luật về tố tụng, tổ chức bộ máy và ngân sách;

Thứ ba, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL làm trung tâm; bảo đảm chất lượng dịch vụ TGPL theo hướng chuẩn hóa đội ngũ thực hiện TGPL, nâng cao các điều kiện, tiêu chuẩn đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý; không thu hút những người không đủ tiêu chuẩn thực hiện TGPL; huy động các nguồn lực xã hội tham gia thực hiện TGPL tự nguyện;

Thứ tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về TGPL, tinh gọn tổ chức thực hiện TGPL của Nhà nước; Nhà nước bảo đảm tính bền vững của công tác TGPL theo hướng kiểm soát chặt chẽ chất lượng dịch vụ TGPL, đề cao hiệu quả sử dụng ngân sách và khuyến khích sự đóng góp, hỗ trợ tài chính của xã hội cho hoạt động TGPL;

Thứ năm, nghiên cứu luật hóa một số định hướng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Đề án đổi mới công tác TGPL giai đoạn 2015-2025; kế thừa các quy định còn phù hợp và khắc phục bất cập của Luật TGPL năm 2006;

Thứ sáu, luật hóa những quy định từ văn bản dưới luật mà thực tiễn áp dụng có kết quả tích cực; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước, tiếp tục nội luật hóa các quy định của điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.

III. BỐ CỤC CỦA LUẬT

Luật TGPL được bố cục thành 8 chương, 48 điều (giảm 04 Điều):

- Chương I: Những quy định chung gồm 6 điều (từ Điều 1 đến Điều 6) gồm các quy định về phạm vi điều chỉnh, khái niệm TGPL, nguyên tắc hoạt động TGPL, chính sách của Nhà nước về TGPL, nguồn tài chính cho công tác TGPL, các hành vi bị nghiêm cấm. 

- Chương II: Người được TGPL, quyền và nghĩa vụ của người được TGPL gồm 3 điều (từ Điều 7 đến Điều 9) gồm các quy định diện người được TGPL, quyền, nghĩa vụ của người được TGPL.

- Chương III: Tổ chức thực hiện TGPL, quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện TGPL gồm 7 điều (từ Điều 10 đến Điều 16) quy định về tổ chức thực hiện TGPL, quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện TGPL, Trung tâm TGPL nhà nước, hợp đồng thực hiện TGPL, đăng ký tham gia TGPL, chấm dứt thực hiện TGPL của tổ chức tham gia TGPL.

- Chương IV: Người thực hiện TGPL, quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL gồm 9 điều (từ Điều 17 đến Điều 25) quy định về người thực hiện TGPL, quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL, tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý, tập sự TGPL, bổ nhiệm, cấp thẻ, miễn nhiệm và thu hồi thẻ Trợ giúp viên pháp lý, cấp lại thẻ Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL, các trường hợp không được tiếp tục thực hiện hoặc từ chối thực hiện TGPL.

- Chương V: Phạm vi, lĩnh vực, hình thức và hoạt động TGPL gồm 14 điều (từ Điều 26 đến Điều 39)  quy định về phạm vi thực hiện TGPL, lĩnh vực, hình thức TGPL, địa điểm tiếp người được TGPL, yêu cầu TGPL, thụ lý vụ việc TGPL, tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, phối hợp xác minh vụ việc TGPL, chuyển yêu cầu TGPL, kiến nghị trong hoạt động TGPL, trường hợp không tiếp tục thực hiện vụ việc TGPL, lập; lưu trữ hồ sơ vụ việc.

- Chương VI: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với hoạt động TGPL gồm 5 điều (từ Điều 40 đến Điều 44)  quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về TGPL, trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến hoạt động TGPL trong tố tụng và các cơ quan có liên quan, của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật.

- Chương VII: Giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp gồm 02 điều (Điều 45 và Điều 46) quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp.

- Chương VIII: Điều khoản thi hành gồm 02 điều (Điều 47 và Điều 48) quy định về chuyển tiếp và hiệu lực thi hành.

IV. NHỮNG ĐIỂM MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT

 1. Luật đã có sự phân biệt TGPL và dịch vụ pháp lý thiện nguyện của các tổ chức xã hội

Hoạt động TGPL cần tuân theo quy định của Luật này về đối tượng TGPL, tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện, hình thức, lĩnh vực TGPL… Các tổ chức, cá nhân thực hiện TGPL cần bảo đảm đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện nhằm bảo đảm chất lượng dịch vụ TGPL. Việc tham gia TGPL của các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật được thực hiện thông qua cơ chế ký hợp đồng thực hiện TGPL và đăng ký tham gia TGPL. Việc cung cấp dịch vụ pháp lý thiện nguyện của xã hội (theo Luật Luật sư, Nghị định số 77/2008/NĐ-CP về tư vấn pháp luật) không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này.

2. Mở rộng diện người được TGPL

Việc xác định người được TGPL dựa trên nguyên tắc kế thừa những đối tượng hiện đang được TGPL, phù hợp với các chính sách đặc thù, điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam. So với Luật TGPL năm 2006, diện người được TGPL đã được mở rộng (từ 06 diện người lên 14 diện người). Theo đó, 02 đối tượng được kế thừa hoàn toàn từ Luật TGPL năm 2006 là người thuộc hộ nghèo và người có công với cách mạng; 02 đối tượng được kế thừa và mở rộng là trẻ em không nơi nương tựa thành tất cả trẻ em, người dân tộc thiểu số "thường trú" thành "cư trú" tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (cư trú sẽ rộng hơn thường trú vì cư trú bao gồm thường trú và tạm trú).

Luật bổ sung 02 nhóm là người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (hiện thuộc trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo Bộ luật Tố tụng hình sự) và người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo để bảo đảm chính sách hình sự đối với các nhóm đối tượng này. Luật có quy định mới trong việc áp dụng điều kiện có khó khăn về tài chính đối với 08 nhóm người như tại khoản 7 Điều 7 để cung cấp cho những người thực sự có nhu cầu nhưng không có khả năng tài chính để thuê dịch vụ pháp lý. Chính phủ sẽ quy định chi tiết về điều kiện có khó khăn về tài chính áp dụng với các nhóm người này phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội theo từng thời kỳ phát triển của đất nước.

Có thể nói, với việc triển khai hiệu quả Luật TGPL, đáp ứng được đầy đủ, chất lượng nhu cầu TGPL của các diện người được quy định trong Luật cũng sẽ góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

3. Bổ sung nguồn tài chính cho công tác TGPL

Luật TGPL quy định nguồn tài chính cho công tác TGPL bao gồm nguồn ngân sách nhà nước, đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước, nguồn hợp pháp khác. Nhà nước bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách hằng năm của cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về TGPL theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Đối với các tỉnh chưa tự cân đối được ngân sách, Luật quy định việc ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối ngân sách nhà nước để hỗ trợ thực hiện vụ việc TGPL phức tạp, điển hình. Đây là điểm mới quan trọng, khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cho người thuộc diện được TGPL được giúp đỡ pháp lý khi họ có các vụ việc TGPL cụ thể, đồng thời nhằm khắc phục phục phần nào tình trạng bỏ sót nhu cầu TGPL của người dân tại các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách.

4. Nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL

Để thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL, Luật TGPL quy định chuẩn hóa đội ngũ người thực hiện TGPL, quy định tiêu chuẩn đối với tổ chức tham gia TGPL theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa:

- Về tổ chức tham gia TGPL: Để khắc phục tình trạng tham gia TGPL một cách hình thức, không hiệu quả của các tổ chức xã hội, Luật TGPL quy định các điều kiện cụ thể để tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL. Đặc biệt, để ký hợp đồng với các tổ chức có điều kiện tốt nhất cung cấp dịch vụ TGPL Sở Tư pháp sẽ tổ chức lựa chọn theo một quy trình chặt chẽ phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Hơn nữa, Luật có cơ chế trả thù lao cho các tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL nhằm khuyến khích sự tham gia TGPL có chất lượng hơn của các tổ chức này.

- Về người thực hiện TGPL: Luật đã chuẩn hóa, nâng cao tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý tương đương với luật sư; bổ sung tiêu chuẩn phải qua tập sự nghề (tập sự TGPL hoặc tập sự hành nghề luật sư) để Trợ giúp viên pháp lý có thời gian tập sự vận dụng kiến thức, kỹ năng trước khi được cung cấp và chịu trách nhiệm về về dịch vụ TGPL. Chế định cộng tác viên TGPL được kế thừa trên cơ sở có chọn lọc những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về pháp luật, có kinh nghiệm và có thể chủ động về thời gian để bảo đảm tham gia công tác TGPL một cách thực chất, có hiệu quả tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

Như vậy, không phải bất kỳ tổ chức, cá nhân nào có nguyện vọng đều được cung cấp dịch vụ TGPL như Luật năm 2006. Theo Luật TGPL năm 2017, để được cung cấp dịch vụ TGPL, các tổ chức, cá nhân cần đáp ứng yêu cầu, điều kiện tối thiểu do Luật định để bảo đảm chất lượng dịch vụ họ cung cấp cho người được TGPL. Trên cơ sở điều kiện thực tế của địa phương và các quy định trong Luật, Sở Tư pháp và Trung tâm TGPL nhà nước sẽ lựa chọn trong số các tổ chức, cá nhân có nguyện vọng thực hiện TGPL để ký hợp đồng thực hiện TGPL. Với những quy định chặt chẽ về điều kiện để các tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện TGPL, Nhà nước đã thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý có chất lượng cho người nghèo, đối tượng chính sách và các đối yếu thế khác trong xã hội.

5. Nâng cao vai trò của Sở Tư pháp

Vai trò của Sở Tư pháp trong việc tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về TGPL ở địa phương được nâng lên thông qua việc quản lý, đánh giá hoạt động của Trung tâm TGPL nhà nước và nắm bắt yêu cầu TGPL tại địa phương lựa chọn các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật có nguyện vọng, có điều kiện tốt nhất, quyết định việc ký hợp đồng thực hiện TGPL; thực hiện trách nhiệm đăng tải công khai một số thông tin có liên quan theo quy định của Luật để cơ quan, tổ chức, cá nhân dễ dàng khai thác, tiếp cận và sử dụng.

6. Tập trung thực hiện vụ việc TGPL

 Luật TGPL đi đúng bản chất đó là thực hiện các vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL, chỉ thực hiện TGPL khi có vụ việc cụ thể. Hình thức thực hiện TGPL được quy định theo đúng bản chất và yêu cầu của công tác TGPL: Luật TGPL đã kế thừa Luật TGPL năm 2006 và quy định 03 hình thức TGPL, bao gồm: tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng mà không quy định “các hình thức TGPL khác” để tránh tình trạng lạm dụng, thực hiện dàn trải như trươc đây gây lãng phí nguồn lực dành cho TGPL mà không đạt được mục đích chính của TGPL là bảo vệ quyền lợi của người dân trong các vụ việc cụ thể. Luật cũng đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý là viên chức nhà nước tập trung thực hiện vụ việc tố tụng thông qua quy định Trợ giúp viên pháp lý không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong thời gian 02 năm liên tục sẽ bị miễn nhiệm, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan.

7. Tạo thuận lợi hơn cho người được TGPL

Luật có nhiều quy định mới để tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận và sử dụng dịch vụ, như: Quy định phải công bố danh sách người thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL để người dân biết và thực hiện quyền lựa chọn của mình. Ngoài hình thức nộp đơn trực tiếp, gửi qua đường bưu điện, người dân có thể nộp đơn yêu cầu qua hình thức điện tử, fax để tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại; trong các tình huống cụ thể nếu gặp trường hợp cần được TGPL mà đối tượng có khó khăn không thể tự mình đến tổ chức thực hiện TGPL thì các tổ chức, cá nhân có thể thay mặt người được TGPL yêu cầu TGPL.

Luật TGPL năm 2017 quy định trường hợp thụ lý giải quyết ngay khi người yêu cầu chưa thể cung cấp hồ sơ theo quy định để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, đó là các trường hợp vụ việc sắp hết thời hiệu, sắp đến ngày xét xử, hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người thuộc diện được TGPL có nguy cơ bị thiệt hại.

8. Tăng cường trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với hoạt động TGPL

Luật TGPL bổ sung một số quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức đối với hoạt động TGPL như sau:

- Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp tạo điều kiện cho người được TGPL được hưởng quyền TGPL, tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của người bị bắt, người bị tạm giữ hoặc trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu trợ giúp pháp lý của bị can, bị cáo, người bị hại là người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại địa phương. Đây là những nội dung quan trọng trong bối cảnh Bộ luật Tố tụng hình sự quy định việc chỉ định người bào chữa mở rộng cho những bị can, bị cáo về tội có khung hình phạt là 20 năm tù thì số lượng vụ việc được giới thiệu từ cơ quan tiến hành tố tụng sang Trung tâm TGPL nhà nước sẽ tăng lên.

- Đối với các cơ quan nhà nước có liên quan, Luật quy định trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình nếu phát hiện công dân thuộc diện được TGPL, cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được TGPL và giới thiệu đến tổ chức thực hiện TGPL.

- Quy định trách nhiệm các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức chủ quản của tổ chức tư vấn pháp luật trong hoạt động TGPL.

9. Sắp xếp, tinh gọn các Chi nhánh của Trung tâm TGPL của Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

Từ tổng kết thực tiễn thi hành Luật TGPL năm 2006, để phù hợp với Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị, các quy định về Chi nhánh có sự điều chỉnh để bảo đảm tinh gọn tổ chức, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn nhân lực và kinh phí dành cho TGPL tại các địa phương. Chi nhánh đã được thành lập theo Luật TGPL năm 2006 sẽ được rà soát, sắp xếp lại, sáp nhập hoặc giải thể bảo đảm hiệu quả hoạt động. Trường hợp thực sự cần thiết để đáp ứng nhu cầu của nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập mới Chi nhánh. Điều kiện thành lập mới Chi nhánh được quy định chặt chẽ, theo đó, Chi nhánh chỉ được thành lập tại các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện đến Trung tâm TGPL nước, chưa có tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL.

Ngoài các nội dung trên đây, Luật TGPL năm 2017 còn pháp điển hóa một số quy định trong các văn bản dưới luật trong Luật TGPL liên quan đến người thực hiện TGPL; tổ chức thực hiện TGPL lĩnh vực TGPL và hoạt động TGPL. Luật cũng chuẩn hóa quyền, nghĩa vụ của các chủ thể; sửa đổi, bổ sung nguyên tắc hoạt động TGPL; chính sách của Nhà nước về TGPL; không quy định Quỹ TGPL; bổ sung một số hành vi bị nghiêm cấm.

V. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT

1. Dự kiến các hoạt động triển khai thực hiện Luật

Để triển khai Luật TGPL đồng bộ, hiệu quả và thống nhất trên toàn quốc, dự kiến các cơ quan, tổ chức cần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau đây:

a) Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành có liên quan

- Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật; xây dựng, trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành các văn bản quy định chi tiết, thi hành Luật theo thẩm quyền (các văn bản quy định chi tiết Luật phải ban hành trong Quý IV/2017 bảo đảm hiệu lực thi hành đồng thời với Luật)

- Tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động TGPL và đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, ban hành mới các văn bản pháp luật bảo đảm thi hành hiệu quả Luật và báo cáo kết quả rà soát trình Thủ tướng Chính phủ.

- Tổ chức quán triệt, truyền thông về nội dung của Luật và hoạt động TGPL cho đội ngũ người thực hiện TGPL, cán bộ, công chức thực hiện quản lý nhà nước về TGPL và cán bộ, công chức của bộ, ban, ngành, tổ chức liên quan.

b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

 - Xây dựng, ban hành Kế hoạch chi tiết, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và tổ chức triển khai thi hành một cách thực chất, bài bản, chất lượng Luật theo Kế hoạch đã ban hành.

- Tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động TGPL tại địa phương và đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, ban hành mới các văn bản pháp luật bảo đảm thi hành hiệu quả Luật.

- Tổ chức rà soát, thống kê số lượng người thuộc diện được TGPL theo quy định của Luật TGPL tại địa phương; rà soát Chi nhánh của Trung tâm TGPL nhà nước đã được thành lập và có Kế hoạch sáp nhập, giải thể các Chi nhánh hoạt động không hiệu quả.

- Bố trí đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực, kinh phí và các điều kiện khác phục vụ cho việc triển khai hiệu quả công tác TGPL, ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối ngân sách hàng năm cho hoạt động TGPL để hỗ trợ thực hiện các vụ việc TGPL phức tạp, điển hình.

c) Sở Tư pháp

- Chủ động tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh triển khai thực hiện các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền để tổ chức thi hành có hiệu quả Luật TGPL tại địa phương.

- Tổ chức quán triệt, truyền thông về nội dung của Luật TGPL và hoạt động TGPL cho đội ngũ người thực hiện TGPL, cán bộ, công chức thực hiện quản lý nhà nước về TGPL và cán bộ, công chức của các bộ, ban, ngành, tổ chức có liên quan tại địa phương.

- Tổ chức rà soát đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý được bổ nhiệm theo quy định Luật TGPL năm 2006 tại địa phương và có Kế hoạch đào tạo nghề luật sư cho Trợ giúp viên pháp lý đã bổ nhiệm mà chưa có Giấy chứng nhận đào tạo nghề luật sư, phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.

- Có Kế hoạch đánh giá tình hình tham gia thực hiện TGPL, rà soát các tổ chức tham gia TGPL, tổ chức thực tế thực hiện hoạt động TGPL, tổ chức trong tên gọi có sử dụng cụm từ "trợ giúp pháp lý" và đề xuất các biện pháp xử lý; rà soát, thống kê đội ngũ luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đủ điều kiện tham gia TGPL theo quy định của Luật này tại địa phương và dự kiến nhu cầu, kinh phí để ký hợp đồng thực hiện TGPL theo quy định của Luật TGPL (sửa đổi).

- Có biện pháp tăng cường cơ chế phối hợp với các cơ quan nhà nước có liên quan, nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng để tạo điều kiện cho người thực hiện TGPL và người thuộc diện được TGPL được thực hiện và hưởng các quyền lợi theo quy định

d) Trung tâm TGPL nhà nước

Đánh giá tình hình thực hiện TGPL của cộng tác viên TGPL, rà soát những người đang là cộng tác viên TGPL và đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Luật này; dự kiến nhu cầu, kinh phí để ký hợp đồng thực hiện TGPL với luật sư, cộng tác viên TGPL và chi trả bồi dưỡng cho Trợ giúp viên pháp lý.

đ) Các tổ chức chính trị - xã hội

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các tổ chức có liên quan chỉ đạo các tổ chức trực thuộc ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần quán triệt sâu sắc, đầy đủ nội dung Luật và phối hợp hiệu quả trong việc giới thiệu, thông báo yêu cầu TGPL đến tổ chức thực hiện TGPL, quản lý, giám sát việc thực hiện TGPL của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật theo quy định của Luật.

- Các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đánh giá tình hình hành nghề của luật sư và tư vấn viên pháp luật của tổ chức mình. Trong trường hợp có nhu cầu ký hợp đồng thực hiện TGPL hoặc đăng ký tham gia TGPL và đủ điều kiện theo quy định Luật này thì thông báo cho Sở Tư pháp tại địa phương để lập danh sách.

2. Về kinh phí

- Kinh phí triển khai Luật TGPL được bố trí từ ngân sách nhà nước trong dự toán chi thường xuyên hàng năm và nguồn khác theo quy định của pháp luật.

Các cơ quan được phân công chủ trì thực hiện các nhiệm vụ cụ thể để triển khai Luật TGPL có trách nhiệm lập dự toán kinh phí bảo đảm việc triển khai thi hành Luật, gửi cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự toán ngân sách hàng năm theo quy định của pháp luật.

Đối với các hoạt động được triển khai trong năm 2017, các Bộ, ngành và địa phương được phân công thực hiện có trách nhiệm dự toán bổ sung và sắp xếp, bố trí trong nguồn ngân sách năm 2017 để tổ chức thực hiện.

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực, kinh phí và các điều kiện khác phục vụ cho việc triển khai hiệu quả công tác TGPL, ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối ngân sách hàng năm cho hoạt động TGPL để hỗ trợ thực hiện các vụ việc TGPL phức tạp, điển hình.

3. Một số thách thức, yêu cầu đặt ra trong quá trình triển khai Luật

- Với việc mở rộng diện người được TGPL, dự kiến số vụ việc sẽ tăng lên nhiều, đặt ra yêu cầu phải chuẩn bị kỹ lưỡng các điều kiện, nguồn lực con người và tài chính cần thiết để bảo đảm tính khả thi khi triển khai Luật trên thực tế.

- Cần tăng cường công tác truyền thông về quyền được TGPL và hoạt động TGPL để nâng cao nhận thức của người, cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương và địa phương, nhất là người tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý về TGPL, tổ chức thực hiện và người thực hiện TGPL, đối tượng được TGPL và của xã hội về vai trò của công tác TGPL để từ đó có sự quan tâm thỏa đáng đến hoạt động này.

- Với yêu cầu nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL người thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL phải có kế hoạch tự hoàn thiện, bổ sung kiến thức, kỹ năng hành nghề mới có thể đáp ứng được trong tình hình mới. Tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL phải thay đổi nhận thức và cách thức thực hiện TGPL nhằm cung cấp dịch vụ TGPL có chất lượng, vì đây là dịch vụ chỉ miễn phí cho đối tượng được TGPL, song Nhà nước phải trả thù lao, chi phí dịch vụ TGPL cho người thực hiện TGPL.

Luật giao cho Sở Tư pháp lựa chọn, ký hợp đồng thực hiện TGPL với các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật tạo ra sự cạnh tranh trong việc cung ứng dịch vụ TGPL có chất lượng giữa các tổ chức, cá nhân trong xã hội với Trung tâm TGPL nhà nước và Trợ giúp viên pháp lý. Để đáp ứng được yêu cầu này, các tổ chức thực hiện TGPL phải có đầy đủ trang thiết bị cần thiết cho hoạt động TGPL, người thực hiện TGPL phải nâng cao trình độ, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp để cung cấp dịch vụ có chất lượng. Để thực hiện chế định này đòi hỏi Sở Tư pháp phải chuẩn bị nguồn lực con người để thực hiện nhiệm vụ do Luật quy định.

- Các cơ quan Trung ương cần phải khẩn trương xây dựng để kịp thời trình ban hành và ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn chi tiết, thi hành Luật, đặc biệt là các văn bản yêu cầu phải có hiệu lực đồng thời với Luật.

VI. TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH CỦA LUẬT ĐẾN NGƯỜI DÂN, XÃ HỘI

- Yêu cầu TGPL của người dân được đáp ứng kịp thời và đầy đủ: bằng các quy định tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân trong việc nộp yêu cầu TGPL, quy định thời hạn giải quyết vụ việc Luật giúp cho việc giải quyết vụ việc được nhanh chóng, thuận lợi, tránh gây phiền hà và gây lãng phí thời gian của người dân.

- Quy định các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách ưu tiên bố trí ngân sách từ số bổ sung cân đối ngân sách để thực hiện vụ việc phức tạp, điển hình sẽ giúp khắc phục tình trạng thiếu hụt kinh phí ở nhiều địa phương dẫn đến tình trạng bỏ sót nhu cầu TGPL; chất lượng TGPL được nâng cao

- Qua quy định về người thực hiện TGPL, tổ chức tham gia TGPL, chất lượng TGPL sẽ được nâng cao, tạo được niềm của nhân dân đối với chính sách nhân văn này, khẳng định TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí nhưng chất lượng được chú trọng tương đương với dịch vụ pháp lý có thu phí.

- Cơ chế phối hợp trong hoạt động TGPL được tăng cường giúp đông đảo người dân biết đến hoạt động này, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức TGPL trong quá trình phối hợp thực hiện các vụ việc TGPL cụ thể.

VII. ĐỊNH HƯỚNG NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN

1. Đối với người dân

Cần tập trung tuyên truyền, phổ biến để người dân nắm vững các quy định của Luật, nhất là những điểm mới về: Khái niệm TGPL (Điều 2); Nguyên tắc hoạt động TGPL (Điều 3); Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động TGPL (Điều 6); Người được TGPL (Điều 7); Quyền và nghĩa vụ của người được TGPL (Điều 8 và 9); Tổ chức thực hiện TGPL; quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện TGPL (Điều 10 và 13); người thực hiện TGPL; quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL (Điều 17-18); Các trường hợp không được tiếp tục thực hiện hoặc phải từ chối thực hiện TGPL (Điều 25); Phạm vi, lĩnh vực, hình thức và hoạt động TGPL (Điều 26 đến Điều 33); Không tiếp tục thực hiện vụ việc TGPL (Điều 37); Giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong TGPL (Điều 45-46) và các quy định hướng dẫn chi tiết thi hành các nội dung trên trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

2. Đối với người thực hiện TGPL

Cần nắm vững toàn bộ các quy định của Luật, nhất là những điểm mới như: Khái niệm TGPL (Điều 2); Nguyên tắc hoạt động TGPL (Điều 3); Chính sách của Nhà nước về trợ giúp pháp lý (Điều 4); Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động TGPL (Điều 6); Người được TGPL (Điều 7); Quyền và nghĩa vụ của người được TGPL (Điều 8 và 9); Tổ chức thực hiện TGPL; quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện TGPL (Điều 10 và 13); người thực hiện TGPL; quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL (Điều 17-18); Các trường hợp không được tiếp tục thực hiện hoặc phải từ chối thực hiện TGPL (Điều 25); Phạm vi, lĩnh vực, hình thức và hoạt động TGPL (Điều 26 đến Điều 39); Trách nhiệm quản lý nhà nước về TGPL (Điều 40); Trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đến hoạt động TGPL trong tố tụng (Điều 41); Giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong TGPL (Điều 45-46) và các quy định hướng dẫn chi tiết thi hành các nội dung trên trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

3. Đối với cán bộ, công chức, viên chức được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về TGPL

Cần nắm vững toàn bộ các quy định của Luật, nhất là những điểm mới, trọng tâm là: Khái niệm TGPL (Điều 2); Nguyên tắc hoạt động TGPL (Điều 3); Chính sách của Nhà nước về TGPL (Điều 4); Nguồn tài chính cho công tác TGPL (Điều 5); Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động TGPL (Điều 6); Người được TGPL (Điều 7); Quyền và nghĩa vụ của người được TGPL (Điều 8 và 9); Tổ chức thực hiện TGPL; quyền và nghĩa vụ của tổ chức thực hiện TGPL (Điều 10 và 13); Hợp đồng thực hiện TGPL (Điều 14); Đăng ký tham gia thực hiện TGPL (Điều 15); Chấm dứt thực hiện TGPL của tổ chức tham gia TGPL (Điều 16); người thực hiện TGPL; quyền và nghĩa vụ của người thực hiện TGPL (Điều 17-18); Bổ nhiệm, cấp thẻ, miễn nhiệm và thu hồi thẻ, cấp lại thẻ trợ giúp viên pháp lý (Điều 21-23); Cộng tác viên TGPL (Điều 24); Trường hợp không được tiếp tục thực hiện hoặc phải từ chối thực hiện TGPL (Điều 25); Phạm vi, lĩnh vực, hình thức và hoạt động TGPL (Điều 26 đến Điều 33); Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt động TGPL (Điều 41); Giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong TGPL (Điều 45-46) và các quy định hướng dẫn chi tiết thi hành các nội dung trên trong các văn bản hướng dẫn Luật.

Ngoài ra, tùy từng nhóm đối tượng cụ thể cần lựa chọn các nội dung tuyên truyền, phổ biến cho phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng nhóm đối tượng.

VIII. ĐỊNH HƯỚNG HÌNH THỨC TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN

1. Thực hiện việc đăng tải công khai toàn văn nội dung của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành trên Cổng/Trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị; trên các cơ quan báo chí, truyền thông thuộc phạm vi quản lý.

2. Tổ chức các Hội nghị, Hội thảo, Tọa đàm, lớp tập huấn để giới thiệu, quán triệt, phổ biến nội dung cơ bản của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành; lồng ghép trong nội dung giáo dục pháp luật hằng năm cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động

3. Lựa chọn nội dung để tuyên truyền, phổ biến trên các phương tiện thông tin, truyền thông đại chúng, mạng lưới thông tin cơ sở; bổ sung cho tủ sách pháp luật để người dân tự tìm hiểu, nghiên cứu và học tập.

4. Tổ chức để cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tự giác học tập, tìm hiểu những nội dung cơ bản của Luật, nhất là những điểm mới; cung cấp toàn văn văn bản luật để mọi người tự tìm hiểu khi có nhu cầu

5. Lồng ghép tuyên truyền, phổ biến qua hoạt động thi hành công vụ, hoạt động hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở và các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xử lý vi phạm hành chính…

6. Lựa chọn các hình thức tuyên truyền, phổ biến khác phù hợp với đặc điểm tình hình của cơ quan, tổ chức, địa phương.

Số lượt xem: 50

Liên kết website
Thống kê truy cập
TRANG THÔNG TIN PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TỈNH BẠC LIÊU
CƠ QUAN CHỦ QUẢN: SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẠC LIÊU
Chịu trách nhiệm chính: Trưởng ban biên tập Vưu Nghị Bình, Giám đốc Sở Tư Pháp Tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: 0291.3820.253 - Email: Trangttpbgdplbaclieu@gmail.com.
Ghi rõ nguồn “TRANG THÔNG TIN PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TỈNH BẠC LIÊU” khi phát lại thông tin từ website này