null Đề cương giới thiệu Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Đề cương phổ biến, giáo dục pháp luật
Thứ năm, 29/07/2021, 14:35
Màu chữ Cỡ chữ
Đề cương giới thiệu Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Bộ luật tố tụng hình sự được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015; Luật được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 09/12/2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH

Việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 xuất phát từ các lý do sau đây:

1. Kế thừa các quy định còn phù hợp, khắc phục những tồn tại, hạn chế sau hơn 10 năm triển khai thi hành BLTTHS năm 2003

Qua hơn 10 năm thi hành, BLTTHS năm 2003 đã tạo cơ sở pháp lý hữu hiệu cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, hạn chế oan, sai và bỏ lọt tội phạm, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, đặc biệt là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa, bảo đảm tính minh bạch, khách quan trong tố tụng hình sự. BLTTHS đã khẳng định vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, từ thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 cũng đã bộc lộ vướng mắc, bất cập như: (1) Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng có những nội dung chưa phù hợp nên ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động; điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán là những người trực tiếp giải quyết vụ án nhưng chỉ được giao những thẩm quyền rất hạn chế nên đã ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ giải quyết vụ án; (2) Còn thiếu một số quyền quan trọng bảo đảm cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa thực hiện tốt việc bào chữa, gỡ tội; (3) Quy định về căn cứ tạm giam còn định tính đang là nguyên nhân dẫn đến việc lạm dụng tạm giam trong thực tiễn; quy định về một số biện pháp cưỡng chế tố tụng còn chưa đầy đủ và cụ thể, thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm trong trường hợp người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; (4) Quy định về chứng cứ còn bất cập, chưa phù hợp với diễn biến tình hình tội phạm, chưa thể hiện được yêu cầu tranh tụng đã trở thành nguyên tắc Hiến định và chưa theo kịp sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại, chủ yếu vẫn chỉ ghi nhận những nguồn chứng cứ truyền thống, chưa công nhận là chứng cứ đối với các dữ liệu điện tử được thu thập từ mạng in-tơ-nét, từ các thiết bị điện tử; (5) Chế định thời hạn tố tụng chưa thật hợp lý, vẫn còn những hoạt động tố tụng chưa bị ràng buộc bởi thời hạn; thời hạn tạm giam còn dài; một số thời hạn quá chặt chẽ nên thiếu tính khả thi; (6) Bộ luật hiện hành mới chỉ quy định thủ tục áp dụng cho người chưa thành niên phạm tội, chưa quy định thủ tục cho người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng; thiếu các biện pháp bảo vệ người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác; (7) Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm thiếu chặt chẽ đang là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kháng nghị giám đốc thẩm còn nhiều như hiện nay.

2. Tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật

Trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam, triển khai thực hiện các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng như: “Cải cách mạnh mẽ thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp”; “bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp” mà Đảng ta đã đề ra tại: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 26/5/2005, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005, Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010, Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị; Văn kiện Đại hội X, XI của Đảng đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của BLTTHS năm 2003 để thể chế hóa đầy đủ chủ trương, quan điểm về cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn đất nước.

Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng ta về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bổ sung nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ, bổ sung và làm rõ hơn nhiệm vụ của Tòa án và Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng Hiến định. Những sửa đổi, bổ sung này đòi hỏi phải được cụ thể hóa trong BLTTHS (sửa đổi). Ngoài ra, thời gian qua, Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật liên quan đến tố tụng hình sự như: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật luật sư, Luật trợ giúp pháp lý, Luật thi hành án hình sự…Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS là thực sự cần thiết để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

3. Đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế, nhất là trong hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm

Việt Nam đã và đang thực hiện nhất quán chủ trương chủ động hội nhập quốc tế, tham gia nhiều tổ chức quốc tế, ký kết và gia nhập nhiều điều ước quốc tế, nhất là trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù được ký kết giữa nước ta với các nước trên thế giới, trong khi đó, nhiều quy định của BLTTHS hiện hành mới dừng ở những quy định chung; chưa quy định rõ về giá trị của các nguồn tư liệu có được thông qua hoạt động tương trợ tư pháp hình sự; thiếu các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm thực hiện tốt các cam kết quốc tế.

II. MỤC TIÊU, YÊU CẦU; QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG

1. Mục tiêu, yêu cầu

Xây dựng BLTTHS phải thực sự khoa học, tiến bộ, có tính khả thi cao; là công cụ pháp lý sắc bén để đấu tranh hữu hiệu với mọi loại tội phạm, tháo gỡ vướng mắc, bất cập trong thực tiễn; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được Hiến định; góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN”.

2. Quan điểm chỉ đạo

Việc xây dựng BLTTHS phải quán triệt các quan điểm chỉ đạo sau đây:

- Thể chế hóa đầy đủ chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Hiến pháp năm 2013 bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện; xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội.

- Tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân; cụ thể hóa các trình tự, thủ tục để người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền, trách nhiệm luật định, hạn chế tối đa các quy định chung chung, phải chờ văn bản hướng dẫn.

- Phải dựa trên kết quả tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003, tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp, khắc phục căn bản những vướng mắc, bất cập đặt ra qua thực tiễn. Khẳng định tiếp tục duy trì và phát huy ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn; tham khảo kinh nghiệm quốc tế, tiếp thu có chọn lọc hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử.

- Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp với các luật mới được Quốc hội ban hành; nắm bắt các định hướng lớn trong các dự án luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp đang được soạn thảo nhằm tạo sự đồng bộ trong quá trình sửa đổi, bổ sung; nội luật hóa các điều ước quốc tế liên quan đến tố tụng hình sự mà Việt Nam là thành viên nhằm tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

III. BỐ CỤC CỦA BỘ LUẬT    

BLTTHS gồm 9 phần, 36 chương và 510 điều (tăng 154 điều, bổ sung 176 điều, sửa đổi 317 điều, giữ nguyên 17 điều, bãi bỏ 26 điều); tách chương quyết định truy tố khỏi phần khởi tố, điều tra vụ án hình sự để thành một phần độc lập (Phần thứ ba: Truy tố); ghép phần xét xử sơ thẩm và phần xét xử phúc thẩm điều chỉnh trong một phần (Phần thứ tư: xét xử vụ án hình sự), cụ thể như sau:

Phần thứ nhất: Những quy định chung, gồm 08 chương, 142 điều (Điều 1-Điều 142)

Chương I: Phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS: gồm 06 điều (Điều 1-Điều 6) quy định về phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS; phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội…;

Chương II: Những nguyên tắc cơ bản: gồm 27 điều (Điều 7-Điều 33) quy định những nguyên tắc áp dụng trong tố tụng hình sự như suy đoán vô tội; bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật…;

Chương III: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: gồm 21 điều (Điều 34-Điều 54) quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra…

Chương IV: Người tham gia tố tụng: gồm 17 điều (Điều 55-Điều 71) quy định quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng; trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng…

Chương V: Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự: gồm 13 điều (Điều 72-Điều 84) quy định về người bào chữa; thủ tục đăng ký bào chữa; thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa…

Chương VI: Chứng minh và chứng cứ: gồm 24 điều (Điều 85-Điều 108) quy định về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự; chứng cứ; nguồn chứng cứ…

Chương VII: Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế: gồm 02 mục, 22 điều (Điều 109-Điều 130) quy định về các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế; hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản…

Chương VIII: Hồ sơ vụ án, văn bản tố tụng, thời hạn và chi phí tố tụng: gồm 12 điều (Điều 131-Điều 142) quy định hồ sơ vụ án; văn bản tố tụng; chi phí tố tụng…

Phần thứ hai: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự, gồm 09 chương, 93 điều (Điều 143-Điều 235)

Chương IX: Khởi tố vụ án hình sự: gồm 20 điều (Điều 143-Điều 162) quy định căn cứ khởi tố vụ án hình sự; tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trình tự, thủ tục và trách nhiệm giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm…

Chương X: Những quy định chung về điều tra vụ án hình sự: gồm 16 điều (Điều 163-Điều 178) quy định về thẩm quyền điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong một số hoạt động điều tra; thời hạn điều tra…

Chương XI: Khởi tố bị can và hỏi cung bị can: gồm 06 điều (Điều 179-Điều 184) quy định về khởi tố bị can; thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; triệu tập, hỏi cung bị can…

Chương XII: Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng: gồm 07 điều (Điều 185-Điều 191) quy định về triệu tập, lấy lời khai người làm chứng; đối chất; nhận dạng; nhận biết giọng nói…

Chương XIII: Khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: gồm 09 điều (Điều 192-Điều 200) quy định về thẩm quyền ra lệnh khám xét; khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện…

Chương XIV: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra: gồm 04 điều (Điều 201-Điều 204) quy định về khám nghiệm hiện trường, tử thi; xem xét dấu vết trên thân thể và thực nghiệm điều tra.

Chương XV: Giám định và định giá tài sản: gồm 18 điều (Điều 205-Điều 222) quy định về trưng cầu giám định; yêu cầu giám định; thời hạn giám định; tiến hành giám định; định giá tài sản…

Chương XVI: Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt: gồm 06 điều (Điều 223 -Điều 228) quy định về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; trường hợp áp dụng các biện pháp này; thẩm quyền áp dụng; thời hạn áp dụng…

Chương XVII: Tạm đình chỉ điều tra và kết thúc điều tra: gồm 07 điều (Điều 229-Điều 235) quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ, kết thúc điều tra; truy nã bị can…

Phần thứ ba: Truy tố, gồm 02 chương, 14 điều (Điều 236-Điều 249)

Chương XVIII: Những quy định chung: gồm 07 điều (Điều 236-Điều 242) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát trong giai đoạn truy tố; thẩm quyền truy tố…

Chương XIX: Quyết định việc truy tố bị can: gồm 07 điều (Điều 243-Điều 249) quy định về quyết định truy tố bị can; trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ, đình chỉ, phục hồi vụ án…

Phần thứ tư: Xét xử vụ án hình sự, gồm 03 chương, 113 điều (Điều 250 -Điều 362)

Chương XX: Những quy định chung: gồm 18 điều (Điều 250-Điều 267) quy định về xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục; tạm ngừng phiên tòa; thành phần Hội đồng xét xử; nội quy, biên bản phiên tòa; bản án…

Chương XXI: Xét xử sơ thẩm: gồm 06 mục, 62 điều (Điều 268-Điều 329). bao gồm: Thẩm quyền của tòa án các cấp; chuẩn bị xét xử; thủ tục tố tụng tại phiên tòa...

Chương XXII. Xét xử phúc thẩm: gồm 02 mục, 33 điều (Điều 330-Điều 362) bao gồm: Tính chất của xét xử phúc thẩm và quyền kháng cáo, kháng nghị; Thủ tục xét xử phúc thẩm; phạm vi xét xử phúc thẩm; thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm; đình chỉ xét xử phúc thẩm; thủ tục phiên tòa phúc thẩm…

Phần thứ năm: Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án, gồm 02 chương, 07 điều (Điều 363-Điều 369)

Chương XXIII: Bản án, quyết định được thi hành ngay và thẩm quyền ra quyết định thi hành án: gồm 04 điều (Điều 363-Điều 366) quy định về bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay; thẩm quyền và thủ tục ra quyết định thi hành án; giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án; và giải quyết kiến nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án.

Chương XXIV: Một số thủ tục về thi hành án tử hình, xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích: gồm 03 điều (Điều 367-Điều 369).

Phần thứ sáu: Xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, gồm 03 chương, 43 điều (Điều 370-Điều 412)

Chương XXV. Thủ tục giám đốc thẩm: gồm 27 điều (Điều 370-Điều 396) quy định về tính chất của giám đốc thẩm; căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; quyết định kháng nghị giám đốc thẩm; thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; thẩm quyền, phạm vi giám đốc thẩm; quyết định giám đốc thẩm…

Chương XXVI: Thủ tục tái thẩm: gồm 07 điều (Điều 397-Điều 403) quy định về tính chất của tái thẩm; căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm;  những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm; thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm; các thủ tục khác về tái thẩm…

Chương XXVII. Thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao: gồm 09 điều (Điều 404-Điều 412) quy định về yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; thành phần tham dự phiên họp của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị, đề nghị; thủ tục mở phiên họp; thẩm định hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật…

Phần thứ bảy: Thủ tục đặc biệt, gồm 07 chương, 78 điều (Điều 413-Điều 490)

Chương XXVIII: Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi: gồm 18 điều (Điều 413-Điều 430) quy định về phạm vi áp dụng; nguyên tắc tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng; xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi; việc tham gia tố tụng của người đại diện, nhà trường, tổ chức; bào chữa; xét xử; xóa án tích; trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp giao dục tại trường giáo dưỡng…

Chương XXIX: Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân: gồm 16 điều (Điều 431-Điều 446) quy định phạm vi áp dụng; quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; kê biên tài sản; phong tỏa tài khoản; thẩm quyền và thủ tục xét xử, thi hành án đối với pháp nhân…

Chương XXX: Thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh: gồm  08 điều (Điều 447-Điều 454) quy định về điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; điều tra đối với người bị nghi về năng lực trách nhiệm hình sự; áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra; quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố; quyết định của Tòa án trong giai đoạn xét xử; đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh…

Chương XXXI: Thủ tục rút gọn: gồm 11 điều (Điều 455-Điều 465) quy định về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn; điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn; điều tra, phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm theo thủ tục rút gọn…

Chương XXXII: Xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự: gồm 03 điều (Điều 466-Điều 468) quy định về xử lý người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; xử lý người vi phạm nội quy phiên tòa; và hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt.

Chương XXXIII: Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự: gồm 15 điều (Điều 469-Điều 483) quy định về người có quyền khiếu nại; thời hiệu khiếu nại; quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người tố cáo, người bị tố cáo; thẩm quyền, thời hạn giải quyết; người có quyền tố cáo…

Chương XXXIV. Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác: gồm 07 điều (Điều 484-Điều 490) quy định về người được bảo vệ; cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ; các biện pháp bảo vệ; chấm dứt việc bảo vệ…

Phần thứ tám: Hợp tác quốc tế, gồm 02 chương, 18 điều (Điều 491-Điều 508):

Chương XXXV: Những quy định chung: gồm 06 điều (Điều 491-Điều 496) quy định phạm vi hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; nguyên tắc hợp tác quốc tế; cơ quan trung ương trong hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự…

Chương XXXVI: Một số hoạt động hợp tác quốc tế: gồm 12 điều (Điều 497-Điều 508) quy định việc tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; xử lý trường hợp từ chối dẫn độ công dân Việt Nam; điều kiện cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ; các biện pháp ngăn chặn, căn cứ và thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn; xử lý tài sản do phạm tội mà có…

Phần thứ chín: Điều khoản thi hành, gồm 02 điều (Điều 509 và Điều 510) quy định hiệu lực thi hành và quy định chi tiết.

IV. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LỚN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

BLTTHS năm 2015 có những sửa đổi, bổ sung quan trọng sau đây:

1. Phần thứ nhất: Những quy định chung

1.1. Về những nguyên tắc cơ bản (Chương 2)

BLTTHS năm 2003 quy định hệ thống các nguyên tắc cơ bản tại Chương 2 gồm 30 nguyên tắc (Điều 3-Điều 32). Tổng kết thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 cho thấy nhiều quy định không mang tính nguyên tắc mà chỉ là trình tự, thủ tục tố tụng; thiếu một số nguyên tắc, nhất là những nguyên tắc có ý nghĩa đối với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Nhằm bảo đảm các quy định về nguyên tắc cơ bản đúng nghĩa là những tư tưởng chỉ đạo đối với việc xây dựng và thực hiện BLTTHS, tạo cơ sở cho việc hình thành những chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của các chủ thể trong quá trình giải quyết vụ án hình sự hướng đến mục tiêu xây dựng nền tư pháp dân chủ, pháp quyền, tôn trọng con người và đề cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ 30 nguyên tắc hiện hành, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung một số nguyên tắc mới nhằm phù hợp với Hiến pháp năm 2013, loại bỏ những quy định không mang tính nguyên tắc, cụ thể như sau:

Thứ nhất, điều chỉnh nội dung của 25 nguyên tắc hiện hành để khắc phục những hạn chế thời gian qua và phù hợp với yêu cầu của Hiến pháp năm 2013.

Thứ hai, bổ sung 05 nguyên tắc mới để bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013, gồm: Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (Điều 11); suy đoán vô tội (Điều 13); không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm (Điều 14); tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26); bảo đảm sự kiểm tra, giám sát trong hệ thống từng cơ quan tố tụng và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 33).

Thứ ba, đưa một số quy định không mang tính nguyên tắc mà chỉ có tính chất là thủ tục hoặc là trách nhiệm của cơ quan để quy định trong các chương khác tương ứng của BLTTHS nhằm bảo đảm tính khoa học, chặt chẽ của hệ thống các nguyên tắc cơ bản. Ví dụ: Giám đốc việc xét xử; trách nhiệm của các tổ chức và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm; sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với các cơ quan tiến hành tố tụng…

1.2. Về cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Chương III)

1.2.1. Về phạm vi điều chỉnh và tên chương

BLTTHS năm 2003 (chương III) chỉ quy định về cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án); người tiến hành tố tụng (Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án). Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định duy nhất tại Điều 111 nhưng thiếu quy định về thẩm quyền của cấp trưởng, cấp phó các cơ quan này nên rất khó khăn trong tổ chức thực hiện. Để khắc phục hạn chế nêu trên, BLTTHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh của chương này theo hướng không chỉ điều chỉnh đối với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, mà còn điều chỉnh cả cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Trên cơ sở đó, điều chỉnh tên chương thành: “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng”.

1.2.2. Về phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính tư pháp với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp; tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán (Điều 36, 37, 41, 42, 44, 45)

BLTTHS năm 2003 quy định khi được phân công giải quyết vụ án, cấp phó của các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ có thẩm quyền tố tụng, không có thẩm quyền về hành chính tư pháp (thẩm quyền này chỉ thuộc cấp trưởng hoặc một cấp phó được ủy quyền khi cấp trưởng vắng mặt) còn Điều tra viên, Kiểm sát viên là những người trực tiếp giải quyết vụ án nhưng chỉ được giao rất ít các thẩm quyền tố tụng. Để khắc phục tình trạng trên, BLTTHS năm 2015 quy định: (1) Trong lĩnh vực được phân công phụ trách, cấp phó không chỉ được giao thẩm quyền tiến hành tố tụng như hiện hành, mà còn được giao thẩm quyền quản lý hành chính tư pháp; (2) Phân định thẩm quyền giữa Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng với người trực tiếp tiến hành tố tụng theo hướng những thẩm quyền có tính chất quyết định việc “đóng, mở” một giai đoạn tố tụng, những thẩm quyền liên quan đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân giao cho Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định. Hầu hết những thẩm quyền có tính chất phát hiện hoặc làm sáng tỏ sự thật vụ án giao cho Điều tra viên, Kiểm sát viên trực tiếp quyết định. Tăng cơ bản thẩm quyền cho Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa. Từ đó, việc tăng thẩm quyền cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán được quy định cụ thể như sau:

- Điều tra viên được tăng các thẩm quyền: (1) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; (2) Triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; (3) Quyết định áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ; quyết định dẫn giải người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại; (4) Quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát; (5) Quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội; (6) Thi hành lệnh phong tỏa tài khoản.

- Kiểm sát viên được tăng các thẩm quyền: (1) Trực tiếp giải quyết và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; (2) Triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; (3) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, đề nghị thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; (4) Bắt buộc có mặt khi Cơ quan điều tra tiến hành đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét; (5) Yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã, đình nã bị can; (6) Quyết định áp giải người bị bắt, bị can; quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị hại; (7) Quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân để giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội.

- Thẩm phán được tăng các thẩm quyền: (1) Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện biện pháp cưỡng chế; (2) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản;  (3) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội; (4) Yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; (5) Quyết định việc thu thập, bổ sung chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

1.2.3. Mở rộng diện người tiến hành tố tụng (các Điều 38, 43, 48)

Để phù hợp với Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức tòa án nhân dân và thực tiễn giải quyết vụ án hình sự thời gian qua, BLTTHS năm 2015 bổ sung diện người tiến hành tố tụng gồm: Cán bộ điều tra, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên và quy định cụ thể nhiệm vụ của họ khi được phân công giúp việc cho Điều tra viên, kiểm sát viên, Chánh án Tòa án.

1.2.4. Bổ sung cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 35)

BLTTHS năm 2003 quy định cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, cảnh sát biển, các cơ quan khác thuộc Công an nhân dân và Quân đội nhân dân. Để phản ứng kịp thời với tình hình tội phạm xảy ra trên biển, góp phần khẳng định chủ quyền biển đảo từ phương diện hoạt động tư pháp, BLTTHS năm 2015 bổ sung cơ quan Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng, cấp phó, Cán bộ điều tra của lực lượng Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

1.2.5. Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng, cấp phó các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 39, 40)

BLTTHS năm 2003 không quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng, cấp phó các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, vì vậy, để khắc phục những bất cập hiện hành, phân định chính xác phạm vi điều chỉnh giữa BLTTHS với Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, BLTTHS năm 2015 bổ sung hai điều luật mới để quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng, cấp phó các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

1.3. Về người tham gia tố tụng (Chương IV)

1.3.1. Bổ sung diện người tham gia tố tụng (Điều 55)

BLTTHS năm 2003 quy định những người tham gia tố tụng gồm: Người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; người bào chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự; người giám định; người phiên dịch.

Để đáp ứng yêu cầu giải quyết vụ án hình sự thời gian qua, BLTTHS năm 2015 bổ sung 09 diện người tham gia tố tụng, gồm: (1) Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố; (2) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; (3) Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; (4) Người bị bắt; (5) Người chứng kiến; (6) Người định giá tài sản; (7) Người dịch thuật; (8) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; (9) Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, từ đó, Bộ luật cũng quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của những đối tượng này khi tham gia tố tụng.

  1.3.2. Bổ sung một số quyền của người bị buộc tội (Điều 58, 59, 60, 61)

Để bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện tốt quyền bào chữa và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, BLTTHS năm 2015 bổ sung cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo một số quyền như: (1) Được nhận các quyết định tố tụng liên quan đến mình; (2) Đưa ra chứng cứ; (3) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; (4) Có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; (5) Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người định giá tài sản, người dịch thuật; (6) Bị can có quyền đọc, ghi chép bản sao hoặc tài liệu đã được số hóa liên quan đến việc buộc tội họ trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra theo quy định của Bộ luật này khi có yêu cầu; (7) Bị cáo có quyền trực tiếp hỏi những người tham gia tố tụng nếu được Chủ tọa phiên tòa đồng ý và một số quyền khác. Đồng thời quy định rõ hơn về nghĩa vụ của người bị buộc tội phải chấp hành các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền;

1.3.3. Xác định đầy đủ diện của bị hại và bổ sung một số quyền của họ (Điều 62)

BLTTHS năm 2003 quy định người bị hại chỉ là cá nhân; BLTTHS năm 2015 quy định diện người bị hại không chỉ gồm cá nhân bị thiệt hại mà còn bao gồm tổ chức bị thiệt hại. Để bị hại bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, BLTTHS năm 2015 bổ sung cho bị hại và người đại diện theo pháp luật của họ các quyền: (1) Được cơ quan tố tụng thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của họ; (2) Đưa ra chứng cứ; (3) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; (4) Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người định giá, người dịch thuật; (5) Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người tham gia phiên tòa và một số quyền khác.

BLTTHS năm 2015 quy định rõ hơn nghĩa vụ, trách nhiệm của người bị hại để tăng cường trách nhiệm của họ trong việc phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tố tụng phát hiện, xử lý tội phạm: (1) Nghĩa vụ chấp hành các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền; (2) Trường hợp cố ý vắng mặt hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải.

1.3.4. Bổ sung một số quyền của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Điều 63, 64, 65)

- Để bảo đảm cho những chủ thể này bảo vệ tốt hơn quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, phù hợp với Luật giám định tư pháp, BLTTHS năm 2015 bổ sung một số quyền của các đối tượng này như: (1) Quyền đưa ra chứng cứ; (2) Quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; (3) Yêu cầu giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người định giá tài sản, người dịch thuật; (4) Quyền được thông báo kết quả giải quyết vụ án; (5) Quyền đề nghị chủ tọa hỏi những người tham gia phiên tòa; (6) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình và một số quyền khác.

- BLTTHS năm 2015 quy định rõ hơn nghĩa vụ của những chủ thể này phải chấp hành các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền nhằm tăng cường trách nhiệm của họ trong quá trình giải quyết vụ án, bảo đảm việc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật.

1.3.5. Sửa đổi các quy định liên quan đến người làm chứng (Điều 66)

BLTTHS năm 2003 quy định trong giai đoạn xác minh tố giác, tin báo về tội phạm chưa phát sinh tư cách người làm chứng. BLTTHS năm 2015 quy định thời điểm người làm chứng tham gia tố tụng sớm hơn, kể từ khi cơ quan có thẩm quyền xác minh các nguồn tin về tội phạm và xác định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc hoặc học tập phải tạo điều kiện để họ tham gia tố tụng.

1.4. Về bào chữa và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Chương V)

BLTTHS năm 2015 xây dựng một chương mới để điều chỉnh vấn đề này với những nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu sau đây:

1.4.1. Mở rộng diện người được bảm đảm quyền bào chữa (Điều 58)

Để phù hợp với Hiến pháp năm 2013, ngoài 03 đối tượng được bảo đảm quyền bào chữa như quy định của BLTTHS năm 2003 (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo), BLTTHS năm 2015 bổ sung đối tượng là “người bị bắt”.

1.4.2. Mở rộng diện người bào chữa (Khoản 2 Điều 72)

BLTTHS năm 2003 quy định có 03 diện người bào chữa gồm luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân. Để bảo đảm tốt hơn quyền của người bị buộc tội, phù hợp với quy định của Luật trợ giúp pháp lý, BLTTHS năm 2015 bổ sung diện người bào chữa là Trợ giúp viên pháp lý để bào chữa miễn phí cho các đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý.

1.4.3. Đổi mới quy định về cấp đăng ký bào chữa (Điều 78)

Theo BLTTHS năm 2003, để được tham gia bào chữa trong vụ án, người bào chữa phải được cấp giấy đăng chứng nhận người bào chữa với những quy trình rất chặt chẽ. Để bảo đảm người bào chữa nhanh chóng tham gia tố tụng, BLTTHS năm 2015 đã thay quy định cấp giấy chứng nhận người bào chữa bằng thủ tục đăng ký bào chữa. Theo đó, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ theo luật định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm: Kiểm tra giấy tờ do người bào chữa cung cấp, nếu thấy đủ điều kiện luật định thì vào sổ đăng ký bào chữa và gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng ký và cơ sở giam giữ. Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tố tụng.

1.4.4. Bổ sung một số quyền và cơ chế bảo đảm người bào chữa thực hiện tốt các quyền luật định (Điều 73, các điều từ Điều 79 đến 82)

- Để người bào chữa thực hiện tốt việc bào chữa, gỡ tội, BLTTHS năm 2015 bổ sung một số quyền của người bào chữa, gồm: (1) Quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt; Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, bị tạm giữ, bị can (thay vì chỉ được hỏi khi cơ quan tiến hành tố tụng đồng ý như hiện nay); (2) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; (3) Thu thập chứng cứ; kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; (4) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản; (5) Đề nghị thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.

- BLTTHS năm 2015 bổ sung các cơ chế để người bào chữa thực hiện tốt việc bào chữa như: Quy định trách nhiệm của các cơ quan tố tụng phải thông báo trước cho người bào chữa thời gian và địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia; Quy định cụ thể thủ tục gặp người bị buộc tội đang bị bắt, tạm giữ, tạm giam, thủ tục giao nộp chứng cứ, thủ tục đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án.

Cùng với việc bổ sung quyền của người bào chữa, nhằm tăng cường trách nhiệm của người bào chữa, BLTTHS năm 2015 bổ sung nghĩa vụ của người bào chữa phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; không được tiết lộ thông tin mà mình biết được khi tham gia các hoạt động tố tụng liên quan đến vụ án hoặc liên quan đến người mà mình bào chữa cho những người không có trách nhiệm giải quyết vụ án.

1.4.5. Quy định cụ thể thủ tục mời, cử người bào chữa (Điều 75)

Do BLTTHS năm 2003 quy định rất sơ sài về thủ tục mời, cử người bào chữa; không cho phép người thân thích của người bị buộc tội có quyền mời người bào chữa nên chưa bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền của người bị buộc tội.

Để bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền của người bị buộc tội, nhất là người bị buộc tội đang bị bắt, tạm giữ, tạm giam, BLTTHS năm 2015 quy định: (1) Bổ sung người thân thích của người bị buộc tội có quyền mời người bào chữa (khoản 1 Điều 75); (2) Quy định cụ thể thủ tục và trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý người bị tạm giữ, tạm giam khi tiếp nhận được yêu cầu nhờ người bào từ người buộc tội phải chuyển yêu cầu này hoặc thông báo cho người bào chữa được họ nhờ biết; có trách nhiệm tạo điều kiện cho người bào chữa liên hệ với người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam để thỏa thuận về việc nhờ bào chữa (khoản 2 Điều 75).

1.4.6. Mở rộng các trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa (Điều 76)

BLTTHS năm 2003 quy định bắt buộc mời người bào chữa cho bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình. Để thể chế hóa đầy đủ chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà nước và phù hợp với điều kiện cụ thể nước ta, BLTTHS năm 2015 mở rộng trường hợp bắt buộc mời người bào chữa cho bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là 20 năm, tù chung thân, tử hình. BLTTHS năm 2015 còn quy định chặt chẽ về người có nhược điểm về thể chất theo hướng nhược điểm về thể chất đó phải làm cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không thể tự mình thực hiện được quyền bào chữa.

1.4.7. Về trường hợp không được làm người bào chữa (Khoản 4 Điều 72)

Do BLTTHS năm 2003 còn thiếu các quy định về các trường hợp không cho phép cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Để khắc phục tình trạng này và phù hợp với Luật Luật sư cũng như thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự thời gian qua, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung những đối tượng không được làm người bào chữa, gồm: (1) Nếu đã tham gia vụ án đó với tư cách là người dịch thuật; (2) Là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án mà chưa được xoá án tích; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

1.4.8. Về thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng (Điều 74)

Theo BLTTHS năm 2003, thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định tạm giữ. Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 quy định thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng sớm hơn, kể từ khi có người bị bắt.

1.4.9. Về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự (Điều 83, Điều 84)

BLTTHS năm 2003 chưa quy định về người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, vì vậy, để  bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể này, BLTTHS năm 2015 xây dựng hai điều luật (Điều 83 và Điều 84) để quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này với những bổ sung quan trọng như: (1) Quy định ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố đã có quyền có người bảo vệ quyền lợi; (2) Quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; (3) Yêu cầu giám định, định giá tài sản; (4) Quyền tham gia các hoạt động tố tụng để bảo vệ người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự và một số quyền khác.

1.5. Về chứng cứ và chứng minh (Chương VI)

1.5.1. Điều chỉnh khái niệm về chứng cứ (Điều 86)

BLTTHS năm 2003 quy định chỉ cơ quan tiến hành tố tụng mới có quyền thu thập chứng cứ. Để phù hợp với yêu cầu của cải cách tư pháp và quy định của Hiến pháp năm 2013 về tăng cường tranh tụng, bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, BLTTHS năm 2015 điều chỉnh khái niệm về chứng cứ theo hướng không chỉ cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng mới được quyền thu thập chứng cứ; người bị buộc tội, người bào chữa và một số người tham gia tố tụng khác cũng có quyền thu thập hoặc cung cấp chứng cứ.

1.5.2. Bổ sung một số nguồn chứng cứ và quy định về loại trừ chứng cứ (Điều 87)

BLTTHS năm 2003 quy định nguồn chứng cứ gồm: Vật chứng; Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Kết luận giám định; Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác. Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, tháo gỡ vướng mắc từ thực tiễn, phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại và yêu cầu hội nhập quốc tế, BLTTHS năm 2015 bổ sung vào hệ thống nguồn chứng cứ gồm: (1) Dữ liệu điện tử; (2) Kết luận định giá tài sản; (3) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác trong đấu tranh chống tội phạm.

Để đáp ứng các yêu cầu của chứng cứ về tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp, BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định về loại trừ chứng cứ, theo đó: “Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”.

1.5.3. Quy định cụ thể về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử và việc thu thập dữ liệu điện tử (Điều 99, Điều 107)

Nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm sử dụng công nghệ cao, BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể về dữ liệu điện tử với tính cách là một loại nguồn chứng cứ như: Khái niệm về dữ liệu điện tử; các nguồn chứa dữ liệu điện tử; yêu cầu về giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử; trình tự, thủ tục thu thập, phục hồi dữ liệu điện tử nhằm bảo đảm tính khách quan, tính nguyên trạng và tính có thể kiểm chứng của loại chứng cứ này.

1.5.4. Về phương thức người bào chữa thu thập chứng cứ (Điều 88)

Để phù hợp với yêu cầu tăng cường tranh tụng, BLTTHS năm 2015 quy định quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa và cách thức người bào chữa thu thập chứng cứ, gồm: Gặp thân chủ, bị hại, người làm chứng, những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và các tình tiết liên quan đến việc bào chữa.

1.5.5. Quy định chặt chẽ và chi tiết việc xử lý vật chứng (Điều 106)

Nhằm đáp ứng yêu cầu giải quyết vụ án hình sự, BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung chi tiết việc xử lý vật chứng theo từng trường hợp: Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành; vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có; vật chứng là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được; vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản; vật chứng là động vật hoang dã và thực vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quy hiếm, động vật, thực vật ngoại lai và một số trường hợp khác.

1.6. Về biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (Chương VII)

1.6.1. Về cách thức thiết kế và bố cục chương VII

Tại BLTTHS năm 2003, các biện pháp ngăn chặn được quy định trong cùng chương, trong khi đó các biện pháp cưỡng chế tố tụng khác được quy định rải rác trong nhiều chương dẫn đến không thống nhất trong cách quy định, thậm chí phải quy định lặp lại trong nhiều giai đoạn tố tụng.

Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, BLTTHS năm 2015 sửa theo hướng thu hút toàn bộ các biện pháp có tính cưỡng chế quy định trong các chương, các phần của BLTTHS để điều chỉnh chung trong chương VII nhằm bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ khi quy định về các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân. Theo đó, bố cục thành hai mục (Mục I: Biện pháp ngăn chặn và Mục II: Biện pháp cưỡng chế). Từng biện pháp được điều chỉnh bởi năm yếu tố: căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục và thời hạn tiến hành.

1.6.2. Về biện pháp bắt (Khoản 2 Điều 109)

Nhằm bảo đảm tính cụ thể trong cách thức quy định về biện pháp bắt người, BLTTHS quy định về các trường hợp bắt, bao gồm: (1) Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; (2) Bắt người phạm tội quả tang; (3) Bắt người đang bị truy nã; (4) Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; (5) Bắt người bị yêu cầu dẫn độ.

1.6.3. Về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 110)

BLTTHS năm 2003 quy định bắt người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn độc lập, tuy nhiên, theo quy định của Hiến pháp 2013 “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát”. Quá trình thảo luận tại Quốc hội có ý kiến cho rằng quy định biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp như hiện hành là chưa bảo đảm phù hợp với Hiến pháp năm 2013 “bắt trước, phê chuẩn sau” nên cần phải được điều chỉnh cho phù hợp. Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, BLTTHS năm 2015 sửa thành “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” và có một số điều chỉnh so với hiện nay. Cụ thể là, trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải tiến hành 03 hoạt động: (1) Lấy lời khai ngay người bị giữ; (2) Ra quyết định tạm giữ; (3) Ra lệnh bắt người bị giữ và gửi ngay cho Viện kiểm sát kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn hoặc trả tự do cho người bị giữ.

1.6.4. Bổ sung và quy định chặt chẽ những người có thẩm quyền bắt khẩn cấp, tạm giữ (Khoản 2 Điều 110, khoản 2 Điều 117)

BLTTHS năm 2003 quy định những người có thẩm quyền bắt khẩn cấp gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng. Về thẩm quyền ra lệnh tạm giữ người, gồm những người có thẩm quyền bắt khẩn cấp và Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển.

Để phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, BLTTHS năm 2015 bổ sung thẩm quyền bắt khẩn cấp, tạm giữ cho một số chủ thể thuộc Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm ngư gắn với tiêu chí “thực hiện nhiệm vụ ở địa bàn biên giới, hải đảo, xa cơ quan điều tra chuyên trách”, cụ thể gồm: Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục nghiệp vụ và pháp luật Cảnh sát biển; Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư Vùng.

1.6.4. Quy định cụ thể những việc cần làm ngay sau khi bắt người hoặc nhận người bị bắt (Điều 114)

Nhằm khắc phục những hạn chế của BLTTHS hiện hành do chưa quy định cụ thể những việc cần làm sau khi bắt người bị truy nã, trên cơ sở pháp điển hóa Thông tư liên tịch số 05/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 7/9/2005, BLTTHS năm 2015 quy định rõ trách nhiệm của cơ quan bắt hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp truy nã; trách nhiệm của cơ quan đã ra lệnh truy nã.

1.6.5. Quy định chặt chẽ căn cứ tạm giam và rút ngắn thời hạn tạm giam (Điều 119, Điều 173)

BLTTHS năm 2003 quy định đối với bị can, bị cáo bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm thì có thể tạm giam khi có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Không cho phép tạm giam đối với bị can, bị cáo bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định mức phạt tù đến 02 năm.

Thể chế hóa chủ trương của Đảng về hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam, BLTTHS quy định chặt chẽ căn cứ tạm giam, theo đó, đối với bị can, bị cáo bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm thì cụ thể hóa căn cứ cản trở điều tra, truy tố, xét xử bằng các căn cứ cụ thể như: Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

            Để khắc phục những vướng mắc trong thực tiễn liên quan đến bị can, bị cáo bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định mức phạt tù đến 02 năm nhưng bỏ trốn, BLTTHS năm 2015 quy định chỉ có thể tạm giam đối tượng này nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã (Điều 119).

Để bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân, phù hợp với xu thế của các nền tư pháp tiến bộ trên thế giới, BLTTHS năm 2015 rút ngắn thời hạn tạm giam theo hướng: Trong giai đoạn điều tra, đối với tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng: chỉ cho phép gia hạn một lần thay vì gia hạn hai lần như hiện nay; đối với tội đặc biệt nghiêm trọng, chỉ cho phép gia hạn hai lần thay vì gia hạn ba lần như hiện nay; rút ngắn thời hạn tạm giam 01 tháng đối với tội ít nghiêm trọng; 02 tháng đối với tội rất nghiêm trọng; 04 tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng. Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh với các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, BLTTHS 2015 cho phép gia hạn tạm giam đến khi kết thúc điều tra đối với các tội này nhưng để bảo đảm chặt chẽ, tránh lạm dụng, thẩm quyền gia hạn tạm giam chỉ thuộc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 173)

1.6.6. Sửa đổi nhằm tăng tính hiệu quả các biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú (các Điều 121, 122, 123)

BLTTHS năm 2003 không quy định chế tài đối với người bảo lĩnh nếu để người bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ cam đoan; quy định cho phép đặt cả tiền hoặc tài sản để bảo đảm. Các biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú không bị ràng buộc bởi thời hạn. Để phát huy hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp tạm giam, BLTTHS năm 2015 sửa đổi theo hướng:

- Đối với biện pháp bảo lĩnh: Quy định chế tài phạt tiền áp dụng đối với người bảo lĩnh nếu để cho bị can, bị cáo bỏ trốn; Đối với biện pháp đặt tiền, tài sản để bảo đảm: Chỉ quy định đặt tiền để kịp thời áp dụng biện pháp này trong thực tiễn, tháo gỡ vướng mắc hiện nay trong việc định giá, giám định tài sản, dẫn đến chậm trễ trong áp dụng.

- Quy định cụ thể nghĩa vụ của người nhận bảo lĩnh và nghĩa vụ của bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền, cấm đi khỏi nơi cư trú phải cam đoan.

- Bổ sung thời hạn áp dụng đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lĩnh; đặt tiền nhằm bảo đảm mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân phải được ràng buộc chặt chẽ về thời hạn. Theo đó, thời hạn áp dụng các biện pháp này không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử; đối với người bị kết án phạt tù thì không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

1.6.7. Bổ sung biện pháp tạm hoãn xuất cảnh (Điều 124)

Để đáp ứng yêu cầu phát hiện và xử lý tội phạm, phù hợp với Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014, BLTTHS năm 2015 bổ sung biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Biện pháp này được áp dụng đối với: a) Người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; b) Bị can, bị cáo.

1.6.8. Về các biện pháp cưỡng chế (từ Điều 126 đến Điều 130)

BLTTHS năm 2003 chỉ quy định 03 biện pháp cưỡng chế gồm (1) Áp giải; (2) Dẫn giải; (3) Kê biên tài sản. BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm biện pháp phong tỏa tài khoản; quy định các biện pháp này trong cùng một mục; quy định cụ thể căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn khi áp dụng từng biện pháp này.

1.7. Về hồ sơ vụ án, văn bản tố tụng, thời hạn, chi phí tố tụng (Chương VIII)

Kế thừa các quy định của BLTTHS hiện hành, để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng, BLTTHS năm 2015 bổ sung: (1) Trách nhiệm lập hồ sơ vụ án và bộ hồ sơ vụ án; (2) Bổ sung và quy định cụ thể nội dung các văn bản tố tụng (lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, cáo trạng, bản án và các văn bản tố tụng khác) làm cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng ban hành các mẫu văn bản tố tụng, đồng thời, về kỹ thuật lập pháp, sẽ không phải nhắc lại các nội dung này ở các giai đoạn tố tụng, chỉ cần trích dẫn điều luật (Điều 132); (3) Quy định cụ thể thủ tục lập biên bản và ký biên bản tố tụng trong các trường hợp người tham gia tố tụng không biết chữ hoặc có nhược điểm về thể chất, tâm thần mà không thể ký vào biên bản (Điều 133); (4) Quy định cụ thể các loại chi phí tố tụng và xác định trách nhiệm chi trả chi phí tố tụng trong từng trường hợp (Điều 135, 136).

1.8. Về cấp, giao, chuyển, gửi hoặc thông báo các văn bản tố tụng (Chương VIII)

BLTTHS năm 2003 không có các quy định cụ thể về phương thức cấp, giao, chuyển, gửi, thông báo các văn bản tố tụng, vì vậy, để tháo gỡ mắc trong thực tiễn, BLTTHS năm 2015 xây dựng 06 điều luật quy định cụ thể: (1) Các phương thức cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết, thông báo các văn bản tố tụng, theo đó, cấp, giao, chuyển trực tiếp văn bản tố tụng cho người được nhận; gửi văn bản tố tụng được thực hiện qua bưu điện; niêm yết công khai được thực hiện tại Ủy ban nhân dân nơi người được cấp giao, giao, gửi văn bản cư trú hoặc cư trú cuối cùng hoặc nơi có trụ sở của tổ chức nếu tổ chức này được cấp, giao, gửi văn bản; (2) Quy định trách nhiệm và tính hợp lệ của việc cấp, giao, chuyển, gửi, thông báo các văn bản tố tụng; (3) Quy định cụ thể thủ tục cấp, giao, chuyển, gửi, thông báo các văn bản tố tụng, tạo căn cứ pháp lý để người tiến hành tố tụng thực hiện đúng luật và nhân dân thuận tiện giám sát.

2. Phần thứ hai: khởi tố, điều tra vụ án hình sự

2.1. Về khởi tố vụ án hình sự (Chương IX)

BLTTHS năm 2003 quy định 10 điều luật cho giai đoạn tố tụng quan trọng này và thiếu nhiều quy định như: Trình tự, thủ tục tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; các biện pháp tố tụng được áp dụng; trách nhiệm thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát...Nhằm tháo gỡ những vướng mắc của thực tiễn do tính thiếu cụ thể của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 quy định 20 điều luật về thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, cụ thể như sau:

- Bổ sung và quy định rõ các khái niệm về tố giác tội phạm; tin báo về tội phạm; kiến nghị khởi tố nhằm khắc phục những bất cập trong quy định của Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2015. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền; Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm; cơ quan kiến nghị khởi tố phải gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ liên quan.

- Quy định cụ thể trách nhiệm và thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (Điều 145, Điều 146).

- Sửa thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tối đa là 04 tháng thay vì 02 tháng như hiện hành; việc gia hạn thời hạn giải quyết phải được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định; bổ sung thời hạn phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tối đa không quá 01 tháng (Điều 147, Điều 149).

- Kết thúc việc kiểm tra, xác minh, ngoài việc ban hành quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án như hiện hành, bổ sung quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố để tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thời gian qua có trường hợp đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp… nhưng hết thời hạn luật định mà chưa có kết quả (Điều 148).

Để phù hợp với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội, BLTTHS năm 2015 bổ sung 03 điều luật (Điều 159, 160, 161) để quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố; quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát phải giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng không được khắc phục.

2.2. Về điều tra vụ án hình sự (từ Chương X đến Chương XVII)

BLTTHS năm 2003 dành 06 chương để quy định về “điều tra vụ án hình sự”. Tổng kết thực tiễn thi hành bộc lộ một số vướng mắc như: Quy định về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trung ương chưa chặt chẽ; thiếu một số biện pháp điều tra để đáp ứng yêu cầu giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ án; quy định về giám định còn nhiều bất cập; thiếu quy định về định giá tài sản và các trường hợp tạm đình chỉ điều tra. BLTTHS năm 2015 sửa đổi các nội dung cụ thể như sau:

- Quy định chặt chẽ và cụ thể những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trung ương để một mặt tháo gỡ vướng mắc của thực tiễn, mặt khác, phù hợp với chủ trương tăng thẩm quyền cho cấp cơ sở. Cơ quan điều tra cấp trung ương điều tra những vụ án sau:

+ Vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại;

+ Vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều quốc gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

- Bổ sung và quy định cụ thể một số biện pháp điều tra như: nhận biết giọng nói, định giá tài sản để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn (Điều 191, các điều 215 - 222).

- Nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong công tác giám định hiện nay như: giám định chậm trễ; giám định không chính xác; xung đột giữa các kết luận giám định, BLTTHS năm 2015 bổ sung các quy định như: Phân nhóm các vấn đề cần trưng cầu giám định; quy định thời hạn giám định phù hợp với từng nhóm; xác định giá trị của kết luận giám định đối với việc giải quyết vụ án; giải quyết xung đột giữa các kết quả giám định; bổ sung mới 8 điều luật để quy định cụ thể về định giá tài sản trong tố tụng hình sự (Chương XV).

- Lượng hóa cụ thể một số thời hạn tố tụng, thay cho các thời hạn quy định có tính định tính trong Bộ luật hiện hành (Ví dụ: phải gửi hoặc gửi ngay…).

- Bổ sung một số trường hợp tạm đình chỉ điều tra nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn thời gian qua như: khi yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả mà đã hết thời hạn điều tra (Điều 229).

- Luật hóa các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong BLTTHS để thể chế hóa yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật…”, tạo cơ sở pháp lý để thực thi các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh chống tội phạm, mở rộng nguồn chứng cứ có giá trị trực tiếp chứng minh hành vi phạm tội. Đây cũng là kinh nghiệm của hầu hết các nước trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Đức, Pháp, Anh, Hoa kỳ, Australia…, cụ thể là:

+ Về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được quy định gồm: (1) Ghi âm, ghi hình bí mật; (2) Nghe điện thoại bí mật; (3) Thu thập bí mật dữ liệu điện tử (Điều 223).

+ Về các trường hợp được phép áp dụng: (1) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền; (2) Các tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (Điều 224).

+ Về thẩm quyền áp dụng: Xuất phát từ tính chất đặc biệt quan trọng của các biện pháp này, BLTTHS năm 2015 quy định thẩm quyền áp dụng phải do Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên ra quyết định và phải được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Quy định trách nhiệm của Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát phải kiểm tra, giám sát quá trình áp dụng các biện pháp này (Điều 225).

+ Về thời hạn áp dụng: Nhằm bảo đảm tính chặt chẽ trong việc quy định thời hạn áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân, phù hợp với đặc điểm của từng biện pháp, BLTTHS năm 2015 quy định thời hạn áp dụng không quá hai tháng kể từ ngày phê chuẩn; trường hợp phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra (Điều 226).

+ Quy định công nhận là chứng cứ đối với các thông tin, tài liệu thu được nếu quá trình áp dụng các biện pháp này tuân thủ nghiêm ngặt quy định của luật. Đồng thời, quy định rõ, các thông tin thu được chỉ sử dụng vào mục đích chống tội phạm, nghiêm cấm làm ảnh hưởng đến cá nhân, công dân (Điều 227).

3. Phần thứ ba: Truy tố

BLTTHS năm 2003 đặt chương truy tố trong phần điều tra vụ án hình sự với 04 điều (Điều 166: Thời hạn quyết định việc truy tố; Điều 167: Bản cáo trạng; Điều 168: Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Điều 169: Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án). Để khắc phục vướng mắc trong thực tiễn do cách quy định khái quát của Bộ luật hiện hành và phù hợp với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, trên cơ sở kế thừa các quy định về quyết định truy tố trong Phần thứ hai của BLTTHS hiện hành, BLTTHS năm 2015 xây dựng Phần thứ ba về truy tố, gồm 02 chương: Chương XVIII: Những quy định chung; Chương XIX: Quyết định việc truy tố bị can. Với những nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu sau đây:

3.1. Để bảo đảm tính rành mạch về kỹ thuật lập pháp, BLTTHS năm 2015 tách các quy định có tính chất chung cho toàn bộ giai đoạn truy tố để quy định trong Chương XVIII “Những quy định chung” với các nội dung như: (1) Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố; (2) Thủ tục tiếp nhận hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra chuyển; (3) Xác định Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố; (4) Thời hạn quyết định việc truy tố; (5) Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; (6) Những trường hợp tách, nhập vụ án.

3.2. Để nhận thức và thực hiện thống nhất pháp luật, BLTTHS năm 2015 quy định Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố là Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra. Để xác định thẩm quyền truy tố đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát trong giai đoạn điều tra, Bộ luật quy định: Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành. (Điều 239)

3.3. Nhằm tháo gỡ những vướng mắc của thực tiễn, tránh áp lực đối với các cơ quan tố tụng, trên cơ sở tiếp tục kế thừa các quy định hiện hành về thời hạn giao, gửi các quyết định tố tụng, BLTTHS năm 2015 bổ sung trường hợp đặc biệt, vì lý do khách quan thì thời hạn giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can, người đại diện theo pháp luật của bị can có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày (khoản 2 Điều 240)

3.4. Về thời hạn tạm giam bị cáo trong giai đoạn truy tố, thực hiện chủ trương chung về rút ngắn thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung và thời hạn tạm giam nói riêng, BLTTHS năm 2015 chỉ cho phép áp dụng biện pháp ngăn chặn trong thời hạn quyết định việc truy tố (không quá 20 ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng); rút ngắn so với BLTTHS năm 2003.

3.5. Nhằm tăng cường kiểm tra, kiểm soát trong nội bộ, BLTTHS năm 2015 quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát cấp dưới phải gửi các quyết định tố tụng đến Viện kiểm sát cấp trên; quy định Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ các quyết định này nếu thấy không có căn cứ hoặc trái pháp luật (Điều 240).

3.6. Để bảo đảm việc tách, nhập vụ án được tiến hành chặt chẽ, tránh tùy nghi làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án, BLTTHS năm 2015 bổ sung điều luật để quy định cụ thể các trường hợp tách, nhập vụ án. Theo đó, bên cạnh việc bảo đảm các yêu cầu chung thì việc tách vụ án chỉ được tiến hành trong 3 trường hợp (Bị can bỏ trốn; Bị can mắc bệnh hiểm nghèo; Bị can bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh); đồng thời, quy định 3 trường hợp có thể nhập vụ án (Bị can phạm nhiều tội; Bị can phạm tội nhiều lần; Nhiều bị can cùng tham gia một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm, tiêu thụ tài sản do bị can phạm tội mà có (Điều 242).

3.7. Nhằm bảo đảm việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung được tiến hành chặt chẽ, tránh lạm dụng kéo dài thời gian tố tụng, BLTTHS năm 2015 bổ sung điều luật để quy định cụ thể các căn cứ trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung; trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu của Viện kiểm sát nêu trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Điều 245). Nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án được khẩn trương, BLTTHS quy định trường hợp Tòa án trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, nếu xét thấy có thể bổ sung chứng cứ, tài liệu thì Viện kiểm sát trực tiếp bổ sung mà không nhất thiết phải trả cho Cơ quan điều tra (Điều 246).

3.8. Để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng, BLTTHS năm 2015 xây dựng 03 điều luật để quy định rõ hơn căn cứ Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án và quyết định phục hồi vụ án; xác định cụ thể trách nhiệm, thủ tục và thời hạn khi thực hiện các thẩm quyền này (các Điều 247, 248, 249).

4. Phần thứ tư: xét xử vụ án hình sự

BLTTHS năm 2003 quy định xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm trong hai phần dẫn đến có nhiều quy định chung phải quy định lặp lại cả ở xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Đồng thời, quy định thủ tục tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm dẫn chiếu sang áp dụng như phiên tòa sơ thẩm là không chính xác. Để khắc phục tình trạng trên, BLTTHS năm 2015 xây dựng Phần thứ tư gồm có 03 chương (chương những quy định chung; chương xét xử sơ thẩm; chương xét xử phúc thẩm), cụ thể như sau:

4.1. Về những quy định chung (Chương XX)

4.1.1. Bổ sung Chương mới quy định chung về xét xử (Chương XX)

Quy định chương này để tách các quy định có tính chất chung cho cả xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm để tránh trùng lặp. Nội dung của Chương gồm các quy định: Thành phần Hội đồng xét xử; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Biên bản phiên tòa; Biên bản nghị án; Bản án; Giao, gửi bản án. Trong đó, quy định cụ thể nội dung của bản án, quyết định, các văn bản tố tụng và trách nhiệm của Tòa án trong việc giao, gửi bản án, quyết định, các văn bản tố tụng cho những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Chương này cũng mở rộng diện chủ thể được nhận các bản án, quyết định của Tòa án gồm cả bị hại, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án dân sự, trại tạm giam, trại giam nơi đang giam giữ bị cáo.

4.1.2. Về nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục và quy định về tạm ngừng phiên tòa (Điều 250, Điều 251)

Xét xử liên tục là quy định có tính nguyên tắc đối với hoạt động xét xử, được ghi nhận trong pháp luật của các nước trên thế giới, được pháp luật tố tụng nước ta từ trước đến nay ghi nhận và bảo đảm thực hiện, vì vậy, BLTTHS năm 2015 tiếp tục khẳng định nguyên tắc xét xử liên tục; bổ sung quy định về tạm ngừng phiên tòa để phù hợp với thực tiễn và đồng bộ với Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính (trong trường hợp cần phải xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa; do tình trạng sức khỏe, do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa); đồng thời quy định về thời hạn tạm ngừng phiên tòa được quy định không quá 05 ngày.

4.1.3. Các biện pháp Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ (Điều 252)

Để phù hợp với Luật tổ chức tòa án nhân dân và vị trí của Tòa án trong tố tụng hình sự, BLTTHS năm 2015 quy định Tòa án tiến hành việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ thông qua 05 hoạt động: (1) Tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; (2) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; (3) Xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên tòa; (4) Xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án; (5) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản ngoài những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, định giá tài sản quy định tại Điều 206 và Điều 221 của Bộ luật này; trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại; yêu cầu định giá lại tài sản.

4.1.4. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử (Điều 266, Điều 267)

Trên cơ sở quy định của Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân, BLTTHS bổ sung 2 điều luật quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và khi kiểm sát xét xử.

4.2. Về xét xử sơ thẩm (Chương XXI)

4.2.1. Thẩm quyền xét xử của Tòa án (Điều 268)

Để phù hợp với thực tiễn và trên cơ sở pháp điển hóa các văn bản hướng dẫn hiện hành, BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu đối với các vụ án: (1) Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài; (2) Những vụ án tuy thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; những vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.

4.2.2. Về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự và việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự (Điều 272, Điều 273)

Thực hiện nghị quyết của Quốc hội triển khai thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân, BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự gồm: (1) Vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội; (2) Vụ án có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của những người nêu trên hoặc gây thiệt hại đến tài sản được Quân đội cấp cho những người này để thực hiện nhiệm vụ quân sự hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội quản lý, bảo vệ.

BLTTHS năm 2015 phân định rõ thẩm quyền xét xử của Tòa án trong trường hợp bị cáo vừa phạm tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân, vừa phạm tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Theo đó, trường hợp có thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; Tòa án nhân dân xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân; trường hợp không thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án.

4.2.3. Về chuyển vụ án (Điều 274)

Nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng thời gian qua, BLTTHS năm 2015 sửa đổi quy định về trình tự, thủ tục chuyển vụ án khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Tòa án trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đã truy tố để Viện kiểm sát này hủy bỏ quyết định truy tố và chuyển vụ án đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố.

Trường hợp thấy vụ án vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đã trả hồ sơ thì Viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ vụ án đến Tòa án kèm theo văn bản nêu rõ lý do. Nếu Tòa án xét thấy vụ án vẫn không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì tiến hành giải quyết tranh chấp theo Điều 275.

4.2.4. Về trả hồ sơ để điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ và Tòa án xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ (Điều 280)

Để tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn, bảo đảm tính cụ thể của BLTTHS, BLTTHS năm 2015 cụ thể hóa các căn cứ Tòa án trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung trên cơ sở pháp điển hóa quy định của Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT ngày 27/8/2010 đã được thực tiễn kiểm nghiệm là phù hợp.

4.2.5. Về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử (các Điều 26, 58, 59, 60, 61, 73, 279, 280, 290, 291, 307, 309)

Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử và quyền của người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử công bằng, BLTTHS năm 2015 quy định: Ngoài cơ quan tố tụng có quyền thu thập chứng cứ như hiện nay còn bổ sung người bị buộc tội và người bào chữa có quyền thu thập, cung cấp chứng cứ (Điều 58, 59, 60, 61, 73); Quy định người bị buộc tội, người bào chữa có quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; Bổ sung quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng trước khi mở phiên tòa như: yêu cầu cung cấp, bổ sung chứng cứ; yêu cầu triệu tập người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa (Điều 279); Bổ sung quy định khi phát hiện quá trình khởi tố, điều tra, truy tố không bảo đảm quyền bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can thì Tòa án không mở phiên tòa, trả hồ sơ để Viện kiểm sát khắc phục vi phạm (Điều 280); Quy định chặt chẽ sự có mặt của bị cáo, người bào chữa tại phiên tòa (Điều 290, 291); Đổi mới trình tự và trách nhiệm xét hỏi theo hướng việc xét hỏi trước tiên phải thuộc về chủ tòa phiên tòa, sau đó chủ tọa quyết định ai hỏi trước, ai hỏi sau mà không tuân theo trình tự xét hỏi như Bộ luật hiện hành (Điều 307); bị cáo có quyền trực tiếp đặt câu hỏi với các bị cáo khác nếu được Chủ tọa đồng ý thay vì chỉ có quyền đề nghị Chủ tọa hỏi như hiện nay (Điều 309); Khẳng định rõ nguyên tắc bản án, quyết định của Tòa án chỉ được căn cứ trên cơ sở kết quả thẩm vấn, tranh tụng và những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa (Điều 26).

4.2.6. Về giới hạn xét xử (Điều 298)

Để bảo đảm sự độc lập của Tòa án trong xét xử, bảo đảm phán quyết của Tòa án phải trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh tụng và chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định: Trường hợp thấy cần xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.

4.2.7. Về bảo đảm quyền của người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định (Điều 277, 326) 

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền của người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, BLTTHS năm 2015 quy định thời hạn chuẩn bị xét xử được tính từ ngày Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án thay vì từ ngày phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa như trước (Điều 277); Bổ sung một số thời hạn nhằm bảo đảm mọi hoạt động tố tụng phải bị ràng buộc về thời hạn như thời hạn nghị án là 07 ngày, kể từ ngày kết thúc tranh luận tại phiên tòa (Điều 326); Cụ thể hóa một số thời hạn có tính định tính trong Bộ luật hiện hành bằng các thời hạn cụ thể (là 24 giờ hoặc 03 ngày kể từ khi ra quyết định), tùy thuộc vào loại quyết định và đối tượng được nhận quyết định như: Tòa án gửi quyết định phân công thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.

4.3. Về xét xử phúc thẩm (Chương XXII)

4.3.1. Về người có quyền kháng cáo và thủ tục kháng cáo, nhận và xử lý đơn kháng cáo (các Điều 27, 331, 332)

Để bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, BLTTHS năm 2015 bổ sung người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người dưới 18 tuổi có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ (Điều 331). Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm, thủ tục của Ban giám thị trại tạm giam nơi đang giam giữ bị cáo và Tòa án đã xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm trong việc nhận, xử lý đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác (Điều 332).

4.3.2. Về kháng cáo quá hạn (Điều 335)

Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp người tham gia tố tụng, phù hợp với các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, BLTTHS năm 2015 sửa đổi quy định về xử lý đơn kháng cáo quá hạn. Theo đó, trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải mở phiên họp để xem xét kháng cáo quá hạn với Hội đồng gồm ba Thẩm phán và phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp.

4.3.3. Về Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm (Điều 344)

Trên cơ sở quy định về thẩm quyền của 04 cấp Tòa án trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân, BLTTHS năm 2015 quy định Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những bản án, quyết định của Toà án nhân dân cấp huyện; Toà án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những bản án, quyết định của Toà án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ; Toà án quân sự quân khu và tương đương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những bản án, quyết định của Toà án quân sự khu vực; Toà án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những bản án, quyết định của Toà án quân sự quân khu và tương đương.

4.3.4. Về thụ lý, chuẩn bị xét xử phúc thẩm (các Điều 340, 341, 346, 348, 349, 350, 351)

Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, BLTTHS năm 2015 bổ sung các điều quy định về thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm; chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để nghiên cứu; Quy định rõ các quyết định của Tòa án được ban hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm như quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm cũng như căn cứ, trình tự, thủ tục, thời hạn ra các quyết định này; Bổ sung quy định về sự có mặt của thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm.

4.3.5. Về thủ tục phiên tòa, phiên họp phúc thẩm (Điều 354, Điều 362)

BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung thủ tục phiên tòa phúc thẩm và phiên họp đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo hướng cụ thể, đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử và thống nhất với cách xử lý trong Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính.

4.3.6. Về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm (các Điều 356 - 359)

BLTTHS năm 2015 bổ sung một số thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm nhằm khắc phục vướng mắc hiện nay do Tòa án cấp phúc thẩm không có đầy đủ thẩm quyền trong việc hủy, sửa bản án sơ thẩm nên phải kiến nghị Tòa án cấp trên kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, làm kéo dài vụ án không cần thiết.

5. Phần thứ sáu: Xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật

5.1. Về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (Chương XXV, XXVI)

5.1.1. Về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm (Điều 371, Điều 372)

BLTTHS năm 2003 quy định căn cứ kháng nghị gồm: (1) Việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ; (2) Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; (3) Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử; (4) Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự.

Thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, BLTTHS năm 2015 quy định chặt chẽ căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, theo đó, chỉ kháng nghị giám đốc thẩm khi thuộc một trong ba trường hợp sau đây: (1) Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; (2) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố hoặc xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án; (3) Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Thực tế thời gian qua, việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm với căn cứ “Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử” thường gắn thêm hậu quả “mà vi phạm này dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án”. Nếu có vi phạm thủ tục tố tụng nhưng bản án vẫn bảo đảm có căn cứ và đúng pháp luật thì việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm cũng không cần thiết. Ngoài ra, trong thực tiễn khi có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật khác (ngoài Bộ luật hình sự) dẫn đến việc ra bản án sai cũng là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục này.

BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung các quy định để làm rõ trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát trong công tác giám đốc, kiểm sát việc xét xử, theo đó khi Tòa án thực hiện công tác giám đốc việc xét xử, Viện kiểm sát kiểm sát việc xét xử hoặc qua các nguồn thông tin khác mà phát hiện thấy những vi phạm pháp luật trong bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì thông báo ngay bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

5.1.2. Về thẩm quyền giám đốc thẩm và thành phần Hội đồng giám đốc thẩm (Điều 373, Điều 382)

Trên cơ sở mô hình Tòa án 03 cấp, BLTTHS năm 2003 quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao có quyền giám đốc thẩm. Việc giám đốc thẩm được tiến hành bởi toàn thể Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng thẩm phán. Để thống nhất với quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, BLTTHS năm 2015 quy định Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao, Toà án quân sự trung ương bị kháng nghị; Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực; Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ. Quy định thành phần Hội đồng giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao (Hội đồng gồm 03 Thẩm phán và Hội đồng toàn thể); thành phần Hội đồng giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Hội đồng gồm 05 Thẩm phán và Hội đồng toàn thể). Đồng thời, quy định cụ thể phạm vi, thẩm quyền xét xử của các Hội đồng này.

5.1.3. Về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm (Điều 388)

BLTTHS năm 2003 quy định thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm có quyền: (1) Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật; (2) Hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án; (3) Hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.

Ngoài ba thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm trong Bộ luật hiện hành, BLTTHS năm 2015 bổ sung: (1) Thẩm quyền hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa cho đồng bộ với thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm dân sự, hành chính; (2) Thẩm quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để phù hợp với thực tiễn giám đốc thẩm thời gian qua, có những trường hợp chứng cứ đã rõ ràng, có thể khắc phục ngay mà không nhất thiết hủy án để điều tra lại, làm kéo dài thời hạn tố tụng.

5.2. Về thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Chương XXVII)

Đây là thủ tục hoàn toàn mới được BLTTHS năm 2015 bổ sung bởi vì trên thực tế, qua hoạt động giám sát của Quốc hội đã phát hiện có trường hợp quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao vẫn có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, cần phải được xem xét lại. Vì vậy, trong Chương này của Bộ luật quy định rõ về những người có thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; thành phần tham dự phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị; thủ tục, thời hạn mở phiên họp và thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; thông báo kết quả phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bổ sung thủ tục này cũng bảo đảm đồng bộ với Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính.

6. Phần thứ bảy: Thủ tục đặc biệt

Ngoài 04 thủ tục đặc biệt trong Bộ luật hiện hành (thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên; thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; thủ tục rút gọn; khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự), BLTTHS năm 2015 bổ sung 03 thủ tục đặc biệt: (1) Thủ tục bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và những người tham gia tố tụng khác để kịp thời bảo vệ họ khi có nguy cơ bị đe dọa tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản; (2) Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân để đồng bộ với quy định của Bộ luật hình sự năm 2015; (3) Thủ tục xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự. So với quy định của BLTTHS năm 2003, Phần này có những sửa đổi, bổ sung quan trọng sau đây:

6.1. Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên (Chương XXVIII)

BLTTHS năm 2003 chỉ quy định thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên là người bị buộc tội mà thiếu quy định về xác định tuổi của người chưa thành niên; không có sự phân biệt trong thủ tục lấy lời khai, hỏi cung, thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam giữa người chưa thành niên với người thành niên. Để bảo đảm tính đồng bộ và toàn diện, BLTTHS năm 2015 có sửa đổi, bổ sung sau:

- Thay đổi quy định “người chưa thành niên” thành “người dưới 18 tuổi” do Dự án “Luật bảo vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em” đang được sửa đổi, trong đó có phương án điều chỉnh tuổi “trẻ em”; việc thay đổi đó là nhằm bảo đảm tính ổn định của Bộ luật sau khi được ban hành.

- Sửa đổi phạm vi áp dụng của Chương này theo hướng không chỉ áp dụng với người dưới 18 tuổi là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như hiện hành mà còn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi là người bị hại, người làm chứng. Việc sửa đổi, bổ sung thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi được tiến hành trên cơ sở kết quả tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003, nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp điển hóa quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT ngày 12/7/2011 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập và bảo đảm tính cụ thể của thủ tục này.

- Quy định cụ thể 07 nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi (Điều 414); điều kiện và yêu cầu đối với người tiến hành tố tụng nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự (Điều 415).

- Nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn, BLTTHS bổ sung quy định cụ thể nhằm xác định tuổi của người chưa thành niên là người làm chứng, là người bị hại trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà không xác định được chính xác tuổi của họ (Điều 417).

- Đổi mới thủ tục lấy lời khai, hỏi cung và tiến hành đối chất người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự theo hướng quy định chặt chẽ việc tiến hành lấy lời khai, hỏi cung; địa điểm, thời gian lấy lời khai, hỏi cung phải bảo đảm phù hợp với tâm lý, thể trạng người dưới 18 tuổi. Thời gian lấy lời khai, hỏi cung không quá hai lần trong một ngày và mỗi lần không quá hai giờ; việc đối chất người dưới 18 tuổi chỉ được tiến hành trong những trường hợp thực sự cần thiết để giải quyết vụ án (Điều 421);

- Nhằm hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người dưới 18 tuổi, BLTTHS năm 2015 đã điều chỉnh căn cứ tạm giam theo hướng chỉ áp dụng các biện pháp này khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không có hiệu quả. Đồng thời, rút ngắn thời hạn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi theo hướng chỉ bằng 2/3 thời hạn tạm giam đối với người trên 18 tuổi (Điều 419).

- Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định về các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, gồm 03 biện pháp: khiển trách; hòa giải tại cộng đồng; giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Để phù hợp với Bộ luật hình sự năm 2015, BLTTHS năm 2015 bổ sung 05 điều luật để quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp nêu trên.

6.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân (Chương XXIX)

BLTTHS năm 2015 đã bổ sung những quy định khi truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân, cụ thể như sau:

- Quy định mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc không thể tham gia tố tụng được thì pháp nhân phải cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của mình tham gia tố tụng. Tại thời điểm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà pháp nhân không có người đại diện theo pháp luật hoặc có nhiều người cùng là đại diện theo pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định một người đại diện cho pháp nhân tham gia tố tụng (khoản 1 Điều 434).

- Quy định pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng như người bị buộc tội; các quyền và nghĩa vụ tố tụng này được thực hiện thông qua người đại diện (Điều 435).

- Các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân gồm 04 biện pháp: a) Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; b) Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; c) Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; d) Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án (khoản 1 Điều 436).

- Tòa án có thẩm quyền xét xử với pháp nhân được quy định là Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi pháp nhân đó có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân đó thực hiện tội phạm (khoản 1 Điều 444).

Ngoài ra, tại Chương XXIX của BLTTHS năm 2015 còn quy định nhiều thủ tục cụ thể khác để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, đồng thời xác định nguyên tắc áp dụng các quy định khác trong BLTTHS nếu không trái với Chương XXIX.

6.3. Thủ tục rút gọn (Chương XXXI)

6.3.1. Về phạm vi và điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn (Điều 455- 456)

- Về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn: BLTTHS năm 2003 quy định chỉ áp dụng thủ tục rút gọn đến giai đoạn xét xử sơ thẩm. BLTTHS năm 2015 sửa đổi phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn, theo đó, thủ tục rút gọn được áp dụng đối với cả giai đoạn xét xử phúc thẩm, mà không chỉ đối với giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm như hiện nay (Điều 455).

- Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn: BLTTHS năm 2003 quy định gồm 04 điều kiện: (1) Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; (2) Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; (3) Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; (4) Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng.

BLTTHS năm 2015 mở rộng điều kiện được áp dụng đối với trường hợp người phạm tội tự thú và để bảo đảm tính chặt chẽ trong việc quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, Bộ luật quy định chỉ áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm khi có một trong các điều kiện: a) Vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo; b) Vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm nhưng có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo (Điều 456).

- Quy định cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải áp dụng thủ tục rút gọn khi có đủ điều kiện luật định chứ không quy định có tính tùy nghi áp dụng như hiện hành.

6.3.2. Về các thủ tục tố tụng cụ thể (các Điều 457- 465)

Các loại thời hạn trong thủ tục rút gọn như thời hạn ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, thời hạn tạm giữ, tạm giam, thời hạn điều tra, truy tố, xét xử đã được BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể, vừa bảo đảm rút ngắn đáng kể thời gian giải quyết vụ án so với thủ tục thông thường nhưng vẫn bảo đảm việc giải quyết vụ án được thận trọng, chính xác. Tổng thời hạn điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử sơ thẩm được nâng lên là 35 ngày (thay vì 23 ngày như hiện hành); giản lược một số thủ tục để phù hợp với tính chất của thủ tục rút gọn, cụ thể là:

- Thủ tục tạm giữ, tạm giam được áp dụng theo quy định chung, nhưng thời hạn tạm giữ chỉ quy định không quá ba ngày, kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra không quá 20 ngày, trong giai đoạn truy tố không quá 5 ngày, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm không quá 17 ngày, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm không quá 22 ngày.

- Kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra ra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát. Thời hạn giao, gửi quyết định đề nghị truy tố là 24 giờ;

- Trường hợp Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can thì thời hạn giao, gửi quyết định truy tố, chuyển hồ sơ cho Tòa án là 24 giờ.

- Về thụ lý và xét xử sơ thẩm, việc thụ lý vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện theo thủ tục chung. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử; Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Tạm đình chỉ vụ án; Đình chỉ vụ án. Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định, Toà án phải mở phiên toà xét xử vụ án. Trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ vụ án thì Tòa án hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.

- Phiên tòa sơ thẩm do một Thẩm phán tiến hành. Sau phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát công bố quyết định truy tố. Các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa được thực hiện theo thủ tục chung, trừ thủ tục nghị án.

- Về thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm, việc thụ lý vụ án được Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện theo thủ tục chung. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn năm ngày, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm; Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án. Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định, Toà án phải mở phiên toà xét xử vụ án.

- Việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành. Phiên tòa phúc thẩm được tiến hành theo thủ tục chung, trừ thủ tục nghị án.

6.4. Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự (Chương XXXII)

Để bảo đảm tính tôn nghiêm của hoạt động tư pháp, bảo đảm sự vận hảnh thông suốt của hoạt động tố tụng hình sự, BLTTHS năm 2015 bổ sung một chương mới quy định xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng với những nội dung chủ yếu sau đây:

- Quy định 13 nhóm hành vi bị xử lý gồm: (1) Làm giả, huỷ hoại chứng cứ gây trở ngại cho việc giải quyết vụ việc, vụ án; (2) Khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật; (3) Từ chối khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu, đồ vật; (4) Người giám định, người định giá tài sản kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận giám định, định giá tài sản mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan; (5) Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối; (6) Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người bị hại tham gia tố tụng hoặc buộc người bị hại khai báo gian dối; (7) Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người giám định, định giá tài sản thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định, định giá kết luận sai với sự thật khách quan; (8) Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người phiên dịch, người dịch thuật thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch, người dịch thuật dịch gian dối; (9) Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia tố tụng; (10) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; đe doạ, sử dụng vũ lực hoặc có hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; (11) Đã được triệu tập mà vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho hoạt động tố tụng; (12) Ngăn cản việc cấp, giao, nhận hoặc thông báo văn bản tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; (13) Vi phạm nội quy phiên tòa.

- Quy định chế tài áp dụng đối với người có hành vi vi phạm: tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp giải, dẫn giải, phạt cảnh cáo, phạt tiền, tạm giữ hành chính, buộc khắc phục hậu quả hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

6.5. Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự (Chương XXXIII)

Để tăng cường hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, đáp ứng yêu cầu bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn quyền của người khiếu nại, tố cáo trong  tố tụng hình sự, BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung theo hướng:

- Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (bổ sung Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp cao) (các Điều 474, 475, 476, 477).

- Quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng (Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án) (các Điều 474, 475, 476, 477) thay vì cách quy định là thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) như BLTTHS năm 2003.

- Bổ sung, quy định cụ thể hơn thẩm quyền, trách nhiệm của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo như: trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại Cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới; ban hành kết luận kiểm sát; thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án khắc phục vi phạm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo (Điều 483).

- Để bảo đảm tốt hơn quyền của người khiếu nại, bổ sung quyền của họ được thông qua người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người đại diện thực hiện quyền khiếu nại (Điều 472).

- Rút ngắn thời hạn giải quyết tố cáo từ 60 ngày xuống 30 ngày (đối với vụ việc phức tạp, rút ngắn từ 90 ngày xuống còn 60 ngày); bổ sung thời hạn khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu là 03 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (các điều 474, 475, 476, 477, 481).

6.6. Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác (Chương XXXIV)

Để bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác khởi sự xâm hại hoặc đe dọa xâm hại do việc họ tham gia tố tụng, BLTTHS năm 2015 bổ sung một chương mới quy định về: (1) Trách nhiệm bảo vệ; (2) Những người được bảo vệ; (3) Các biện pháp bảo vệ; (4) Quyền và nghĩa vụ của người được bảo vệ; (5) Yêu cầu, đề nghị áp dụng các biện pháp bảo vệ; (6) Chấm dứt việc bảo vệ; (7) Hồ sơ bảo vệ.

Các biện pháp bảo vệ được quy định trong BLTTHS năm 2015 gồm: (1) Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ; (2) Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ; (3) Giữ bí mật và yêu cầu những người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ; (4) Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lai lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ; (5) Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật; (6) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật (Điều 486)

7. Phần thứ tám: Hợp tác quốc tế

7.1. Về phạm vi điều chỉnh

Để phù hợp với phạm vi điều chỉnh của BLTTHS và tránh trùng lặp với Luật tương trợ tư pháp, Phần Hợp tác quốc tế chỉ điều chỉnh: (1) Những vấn đề mang tính nguyên tắc chung về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; (2) Một số thủ tục hợp tác cụ thể trong tố tụng hình sự.

7.2. Về nội dung điều chỉnh

Trên cơ sở kế thừa quy định về hợp tác quốc tế trong BLTTHS hiện hành, đảm bảo sự tương thích, phù hợp với quy định của Luật tương trợ tư pháp, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tạo cơ sở pháp lý cho thực tiễn thi hành, BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số nội dung sau:

- Quy định phạm vi hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự (Điều 491): BLTTHS năm 2003 chỉ quy định phạm vi gồm: Tương trợ tư pháp về hình sự; dẫn độ. BLTTHS năm 2015 bổ sung: tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và các hoạt động hợp tác quốc tế khác.

- Về biện pháp ngăn chặn (Điều 502): BLTTHS năm 2003 không quy định áp dụng biện pháp ngăn chặn trong thủ tục dẫn độ. BLTTHS năm 2015 quy định 04 biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong quá trình xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ gồm: (1) Bắt tạm giam; (2) Cấm đi khỏi nơi cư trú; (3) Tạm hoãn xuất cảnh; (4) Đặt tiền để bảo đảm. Đồng thời, quy định cụ thể căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn nêu trên.

Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 còn quy định cụ thể hơn các vấn đề như: (1) Xác định nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; (2) Vấn đề áp dụng pháp luật; (3) Cơ quan trung ương trong hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự; (4) Việc tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; (5) Việc tiến hành tố tụng của người có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài và ngược lại; (6) Giá trị pháp lý của chứng cứ được thu thập qua hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; (7) Trình tự, thủ tục xử lý trường hợp từ chối dẫn độ công dân Việt Nam; (8) Xử lý tài sản do phạm tội mà có, phối hợp điều tra, áp dụng biện pháp điều tra đặc biệt.

8. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát

8.1. Quy định đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong các giai đoạn tố tụng

Nhằm quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong từng giai đoạn tố tụng, khắc phục những hạn chế của Bộ luật hiện hành, BLTTHS năm 2015 dành 09 điều luật để quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong 04 giai đoạn tố tụng, cụ thể là:

- Trong giai đoạn khởi tố: Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm (Điều 159); Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm (Điều 160); Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự (Điều 161).

- Trong giai đoạn điều tra: Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự (Điều 165); Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự (Điều 166).

- Trong giai đoạn truy tố: Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố(Điều 236); Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát trong giai đoạn truy tố (Điều 237).

- Trong giai đoạn xét xử: Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử (Điều 266); Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử (Điều 267).

Từ quy định tại 9 điều luật nêu trên, BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, cũng như cơ chế bảo đảm Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ.

8.2. Chức năng thực hành quyền công tố được quy định sớm hơn

Chức năng thực hành quyền công tố được BLTTHS năm 2015 quy định tiến hành từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm mà không phải từ khi khởi tố vụ án như hiện nay với nhiều thẩm quyền như: (1) Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ; phê chuẩn, không phê chuẩn các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của Bộ luật này; (2) Khi cần thiết đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm thực hiện; (3) Quyết định gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố vụ án hình sự; (4) Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố vụ án; (5) Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong những trường hợp theo quy định của Bộ luật này; (6) Hủy bỏ quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án, quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm và các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; (7) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác để thực hành quyền công tố theo quy định của Bộ luật này nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội.

Để nắm bắt kịp thời việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra, khắc phục bất cập của Thông tư liên tịch số 06 ngày 02/8/2013 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố “Sau khi tiếp nhận thông tin liên quan đến tội phạm, Cơ quan điều tra phải tiến hành phân loại, xác minh sơ bộ ban đầu. Nếu xác định thông tin đó là tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố và gửi ngay một bản đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật”, BLTTHS năm 2015 quy định: Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho Viện kiểm sát cùng cấp.

8.3. Bổ sung các quy định để Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp

Để Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, BLTTHS năm 2015 bổ sung nhiều quy định như:

- Quy định 117 văn bản tố tụng phải gửi cho Viện kiểm sát (BLTTHS năm 2003 là 45 văn bản tố tụng).

- Quy định 25 văn bản tố tụng phải chuyển, giao trực tiếp cho Viện kiểm sát (BLTTHS năm 2003 là 9 văn bản tố tụng).

- Quy định 32 loại văn bản tố tụng gửi cho Viện kiểm sát phải kèm theo các tài liệu liên quan (BLTTHS năm 2003 là 20 văn bản tố tụng).

8.4. Bổ sung bảo đảm Viện kiểm sát nắm chắc tiến độ điều tra và việc lập hồ sơ vụ án

Để giúp Viện kiểm sát nắm chắc tiến độ điều tra vụ án, theo sát quá trình điều tra và kiểm sát tốt việc lập hồ sơ vụ án, BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 88: “Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án. Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày. Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng dấu bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Việc giao, nhận tài liệu, biên bản được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này”.

8.5. Bảo đảm chủ động hơn trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ

Để khắc phục vướng mắc trong thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ thời gian qua, tăng cường sự chủ động của Viện kiểm sát, BLTTHS năm 2015 bổ sung một số quy định như:

- Trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng không được khắc phục thì Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đó (Điều 145).

- Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp cần kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng không được khắc phục hoặc trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố  (Điều 165, Điều 236).

- Trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có quyền ra quyết định khởi tố bị can nếu phát hiện có người đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm nhưng chưa bị khởi tố mà đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện (không phải chờ đến khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ vụ án mới có quyền khởi tố bị can như hiện nay) (Điều 179).

- Viện kiểm sát quyết định chuyển vụ án nếu đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện (mà không phụ thuộc vào đề nghị của Cơ quan điều tra mới có quyền quyết định chuyển vụ án như hiện nay) (Điều 169).

8.6. Điều chỉnh hợp lý thời hạn Viện kiểm sát phê chuẩn các quyết định tố tụng

Để khắc phục những khó khắn hiện nay do thời hạn phê chuẩn các lệnh, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra ngắn, nhất là đối với những vụ việc chưa đầy đủ chứng cứ, tài liệu, BLTTHS năm 2015 bổ sung như sau:

- Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra. Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can (Điều 179).

- Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra. Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can (Điều 180).

8.7. Giải quyết những vướng mắc xung quanh vấn đề án trung ương “ủy quyền” thời gian qua

Để giải quyết những tranh luận thời gian qua đối với những vụ án do Cơ quan điều tra cấp trung ương điều tra, VKSNDTC thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, quá trình soạn thảo, VKSNDTC đã báo cáo và được Quốc hội chấp thuận đặc thù của loại án này và quy định Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra thì có thẩm quyền quyết định việc truy tố. Đồng thời, để giúp Kiểm sát viên thực hiện tranh tụng tốt tại phiên tòa, BLTTHS năm 2015 đã xử lý toàn diện vấn đề này như sau: “Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật này” (Điều 239).

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

            Để triển khai thi hành BLTTHS năm 2015, cần triển khai thực hiện tốt những nhiệm vụ sau đây:

            - Đối với những vụ án đang được thụ lý, giải quyết theo BLTTHS năm 2003 nhưng đến ngày 01/7/2016 chưa kết thúc thì thẩm quyền giải quyết tiếp tục áp dụng theo quy định của BLTTHS năm 2003, còn các vấn đề khác (như trình tự, thủ tục, thời hạn…) áp dụng theo BLTTHS năm 2015.

- Đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam theo quy định của BLTTHS năm 2003 nhưng đến ngày 01/7/2016 thời hạn tạm giam bằng hoặc vượt quá thời hạn theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì Viện kiểm sát, Tòa án quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam đang áp dụng hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác theo quy định của BLTTHS năm 2015.

Theo quy định của BLTTHS năm 2015 (Điều 173, Điều 419), thời hạn tạm giam đối với bị can là người thành niên: rút ngắn 01 tháng đối với tội nghiêm trọng; rút ngắn 02 tháng đối với tội rất nghiêm trọng; rút ngắn 04 tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng. Thời hạn tạm giam đối với người chưa thành niên được quy định không quá 2/3 thời hạn tạm giam đối với người thành niên.

Để thực hiện quy định này, đề nghị Viện kiểm sát các cấp rà soát các trường hợp bị can hiện đang tạm giam, phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra đẩy nhanh tiến độ giải quyết, sớm kết thúc vụ án.

- Đối với một số thời hạn mà BLTTHS năm 2015 quy định dài hơn (gồm: Thời hạn kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Thời hạn điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Thời hạn áp dụng thủ tục rút gọn) nếu vụ án đang trong quá trình giải quyết mà đến ngày 01/7/2016 chưa thể kết thúc thì được tính theo thời hạn của BLTTHS năm 2015.

- Một số quy định mới của BLTTHS năm 2015 cần được sớm quan tâm, bố trí dự toán kinh phí, trang thiết bị để bảo đảm thực hiện:

   + Bị can có quyền đọc, ghi chép bản sao hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu (Điều 60).

   + Bổ sung trách nhiệm của Kiểm sát viên bắt buộc phải có mặt trong 05 hoạt động: đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét (các Điều 189, 190, 191, 193, 204).

- Tăng cường công tác phổ biến, quát triệt nội dung Bộ luật đến toàn thể mọi tầng lớp nhân dân, cán bộ, công nhân, viên chức ngành tư pháp, tòa án, viện kiểm sát... coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2016 nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện Bộ Luật. Đặc biệt, do nội dung Bộ luật lớn, cần có sự cân nhắc, tập trung tuyên truyền từng nội dung tương ứng, phù hợp với từng đối tượng, cụ thể như sau:

   + Đối với cán bộ ngành tòa án: Tập trung vào các quy định về xét xử vụ án hình sự; xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật; thủ tục đặc biệt về xét xử vụ án hình sự...

    + Đối với cán bộ ngành kiểm sát: Tập trung vào các quy định về truy tố, khởi tố, điều tra vụ án hình sự, một số quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án...

   + Đối với người dân: Tập trung vào các quy định chung; những quy định về quyền lợi và trách nhiệm của họ khi tham gia vào hoạt động tố tụng; đặc biệt là quyền được bào chữa; tranh tụng tại tòa án...

Số lượt xem: 18

Liên kết website
Thống kê truy cập
TRANG THÔNG TIN PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TỈNH BẠC LIÊU
CƠ QUAN CHỦ QUẢN: SỞ TƯ PHÁP TỈNH BẠC LIÊU
Chịu trách nhiệm chính: Trưởng ban biên tập Vưu Nghị Bình, Giám đốc Sở Tư Pháp Tỉnh Bạc Liêu
Điện thoại: 0291.3820.253 - Email: Trangttpbgdplbaclieu@gmail.com.
Ghi rõ nguồn “TRANG THÔNG TIN PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TỈNH BẠC LIÊU” khi phát lại thông tin từ website này